Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020

Pháp Đầu Đà (DHUTAṄGAKATHĀ) – Tỳ Khưu Bửu Chơn

Đầu đà là tiếng phiên âm ra từ Nam phạn (Pāli) do nơi chữ Dhuta: có nghĩa là thiêu đốt ái dục và phiền não và chữ anga: có nghĩa là phần pháp hay pháp môn để thực hành, 2 chữ này ráp vần lại thành ra Dhuta_anga: dhutanga mà tiếng này người mình đọc trái lại là đầu đà hay là “tà đông”, có nghĩa là phần pháp thực hành để thiêu đốt ái dục và phiền não.

Lời Tựa

Trong mấy năm gần đây phong trào Phật giáo được chấn hưng lại nên phần đông các giới trong đạo Phật thường hay bàn luận đến và có một số người lại thực hành thế nọ thế kia rồi gọi là hành Đầu đà, như ngồi, nằm dưới đất hoặc đi đầu trần chân không, có người lượm vải xanh, đỏ, trắng, vàng may kế lại để mặc, thậm chí có người ráng nhịn đói, nhịn khát cũng gọi là hành Đầu đà. Vì vậy, có nhiều người yêu cầu bần tăng nên phiên dịch pháp đầu đà, bần tăng tuy bận nhiều Phật sự, phần sức khỏe không được đầy đủ nhưng cũng cố gắng nhín chút thì giờ để soạn thảo Pháp đầu đà theo Tam Tạng Pāli và bộ Thanh Tịnh Kinh (Visuddhimagga) quyển Giới Thanh Tịnh (Sīlavisuddhi) để soi sáng thêm một phần nào cho ai là người có chí muốn thực hành theo đạo cao thượng của các vị Tiên Đức cho đúng theo chánh pháp của Đức Thế Tôn hầu tránh khỏi sự sai lạc theo ngoại đạo.
Ước mong quyển kinh nhỏ bé này sẽ đem lại một phần ánh sáng nào trong công việc giúp ích cho quí vị Phật tử muốn tìm hiểu chân lý chánh truyền của Pháp môn Đầu đà.
Do quả phúc của sự soạn dịch này, bần tăng xin thành tâm hồi hướng đến các bực ân nhân nhứt là Thầy tổ và Song thân cùng tất cả chúng sanh trong cõi sa bà đồng được thọ hưởng và xin cho mau phát Bồ đề tâm dõng mãnh tinh tấn tu hành cho đến nơi vô sanh bất diệt đại Níết Bàn.
Rất mong thay!
                             Bhikkhu Nāga Mahā Thera – Tỳ khưu Bửu Chơn                               
Cựu Tăng Thống GHTGNTVN và Cố vấn Tinh thần Phật giáo Thế giới.
Trước khi giải về pháp đầu đà, tôi xin nghiêm thân, khẩu, ý trong sạch làm lễ ân đức Tam bảo tóm tbằng câu Pāli: “Namatthu ratanattayassa”.

Pháp Đầu Đà (Dhutaṅgakathā)

Đầu đà là tiếng phiên âm ra từ Nam phạn (Pāli) do nơi chữ Dhuta: có nghĩa là thiêu đốt ái dục và phiền não và chữ anga: có nghĩa là phần pháp hay pháp môn để thực hành, 2 chữ này ráp vần lại thành ra Dhuta_anga: dhutanga mà tiếng này người mình đọc trái lại là đầu đà hay là “tà đông”, có nghĩa là phần pháp thực hành để thiêu đốt ái dục và phiền não.
Đặc tính pháp đầu đà có 4 là: appicchatā: tiết độ, tư cách của người không ham muốn hay là ít tham muốn; santuṭṭhitā: tri túc, tư cách của người chỉ vui thích vật đã được, đã có dầu xấu dầu tốt không mong muốn cái khác; sallekhatā: trau dồi, tư cách người cố gắng dồi mài dứt bỏ phiền não cho nhẹ bớt; pavivekatā: yên tịnh, tư cách người làm cho tâm được yên tịnh vắng lặng. Bốn điều trên đây là đặc tính để đo lường của người hành pháp đầu đà có đúng theo những đức tánh ấy không.
Hơn nữa, đầu đà cũng là pháp môn thực hành để dứt bỏ hay diệt trừ các pháp nghịch là phiền não do nơi tác ý thụ trì các pháp môn ấy.
Đầu đà có 13 pháp môn là: paṃsukūlikaṅga: pháp môn này của thầy tỳ khưu lượm vải nhơ nhớp của người bỏ may y để mặc; tecīvarikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu chỉ cần có tam y mà thôi (tăng-già-lê, uất-đà-la-tăng, an-đà-hội); piṇḍapātikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện phải đi khất thực; sapadānacarikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện đi khất thực theo mỗi nhà hay mỗi xóm; ekāsanikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện thọ thực trong một chỗ ngồi (là chỉ thọ thực 1 lần trong 1 ngày); pattapiṇḍikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện chỉ thọ thực trong bát[1]khalupacchābhattikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện không thọ thực nữa, khi có thí chủ cúng dâng vật thực mà mình đã ngăn cản không thọ lãnh (trong buổi sáng ấy); araññikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện luôn luôn cư ngụ trong rừng; rukkhamūlikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện ở dưới cội cây; abbhokāsikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện ở nơi đồng trống (không phải nơi che lợp hay bóng cây); sosānikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện ở nơi rừng mả mồ hay chỗ người bỏ hoặc thiêu đốt tử thi; yathāsanthatikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện chỉ ở nơi nào mà chư tăng chỉ định cho, không xin thay đổi nơi khác; nesajjikaṅga: pháp môn của thầy tỳ khưu nguyện không nằm, chỉ dùng đến 3 oai nghi khác mà thôi.
Vậy chớ 13 pháp môn đầu đà này có đặc tính như thế nào? Có phận sự như thế nào? Có quả báo cho thấy rõ như thế nào? Nguyên nhân nào nâng đỡ cho được phát triển lên?
Giải rằng: 13 pháp môn đầu đà này do tác ý thọ trì có đặc tính, có tánh cách dứt bỏ sự tham muốn quá độ là phận sự, có tánh cách ít ham muốn nhất là tri túc là quả báo, có giới hạn trong sạch, là nguyên nhân nâng đỡ cho được phát triển lên thêm.
         
Cách thọ trì.
Nếu có một hành giả nào muốn thọ trì 1 trong 13 pháp đầu đà này phải thọ trì với ai? Và cách thọ trì như thế nào?
Giải rằng: nếu có một hành giả nào muốn thọ trì một pháp đầu đà nào thì nếu lúc Đức Thế Tôn còn tại thế, phải thọ trì với Đức Thế Tôn; nếu sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt rồi thì phải thọ trì với các vị Đại Thinh văn (Mahāsāvaka), nếu mấy vị Đại Thinh văn cũng đã nhập diệt hết thì phải thọ trì với các vị Thánh nhân như A-la-hán, A-na-hàm, Tư-đà-hàm và Tu-đà-huờn hoặc các bậc thuộc nằm lòng Tam tạng, Nhị tạng, Nhứt tạng hoặc các vị kết tập Tam tạng, thuộc chú giải lui xuống theo thứ lớp.
Nếu tất cả các vị ấy cũng không có thì nên thọ trì với các vị đã thọ đầu đà trước kia. Nếu các vị đầu đà trước cũng không có thì phải quét dọn sân thờ tháp Xá Lợi cho sạch sẽ xong đảnh lễ bảo tháp rồi nguyện thọ trì pháp môn nào mà mình sở thích trước bảo tháp ấy cũng như lúc Đức Phật còn hiện tại, hay là tự mình nguyện thọ trì tại một nơi nào cũng được.
Cách thọ trì các pháp môn đầu đà theo thứ tự như sau:
1. Cách thọ trì về sự lượm vải dơ bỏ để làm y – pamsukūnikaṅga
Cách nguyện có hai câu Pāli muốn nguyện thọ trì trong một câu nào cũng được: 1) gahapaṭidānacivaraṃ paṭikkhi-pāmi: tôi xin nguyện thọ trì không lãnh y của thí chủ đem dâng; 2) paṃsukūnikaṅga samādiyāmi: tôi xin nguyện giữ pháp đầu đà chỉ mặc y bằng vải dơ ghê gớm của người bỏ.
Bậc hành giả nào đã thọ trì pháp đầu đà này rồi phải siêng năng đi lượm 23 thứ vải như sau về giặt rửa sạch sẽ lựa chỗ nào tốt còn chắc xé lấy để may y, nhuộm xong đúng luật mới thay y của mình trước kia ra bỏ rồi mặc y dơ đã lượm được vào. 23 thứ vải nên lượm may y là: 1) sosānika: vải bỏ trong rừng mả hoặc vải bao quấn tử thi[2]; 2) pāpaṇika: vải bỏ chung quanh chợ; 3) rathiyacoḷa: vải người làm lễ chi xong thảy ra cửa sổ bỏ trên đường; 4) saṅkāracoḷa: vải bỏ nơi đống rác; 5) sotthiya: vải người lau chùi cho hài nhi sau khi sanh đẻ rồi bỏ; 6) nhānacoḷa: vải mấy thầy phù thủy đắp cho người bệnh rồi làm phép xối nước xong cho là xui đem bỏ; 7) titthacoḷa: vải bỏ gần bến nước; 8) gatapaccāgata: vải người đi vào mồ mả khi về tắm xong bỏ; 9) aggidaḍḍha: vải bị cháy chút ít người ta bỏ; 10) gokhāyita: vải bò gậm họ đem bỏ; 11) upacikākhāyita: vải mối ăn họ đem bỏ; 12) undūrakhāyita: vải chuột cắn bỏ; 13) antacchinna: vải rách biên bỏ; 14) dasacchinna: vải xười bìa bỏ; 15) dhajāhaṭa: vải người treo làm cờ trước khi xuống thuyền đi xứ nào hay vải treo làm cờ nơi chiến địa rồi bỏ; 16) thūpacīvara: vải bao gò mối để cúng lễ rồi bỏ; 17) samaṇacīvara: vải của các bực sa-môn hay tỳ khưu bỏ cho; 18) ābhisekika: vải người bỏ sau khi làm lễ tôn vương; 19) iddhimaya: vải do pháp thần thông là vải của vị được ehibhikkhu; 20) panthika: vải người làm rớt theo đường; 21) vātāhaṭa: vải bị gió trốt cuốn bay đi rớt một nơi nào đó; 22) devadattiya: vải của Chư Thiên có ý bỏ cho; 23) sāmuddiya: vải ngoài biển sóng đánh đưa vào bờ. Tất cả các thứ vải này là ám chỉ thứ vải mà không do nơi thí chủ đem đến dâng hoặc là của tăng chia cho theo thứ lớp của hạ. Nghĩa là vải tự mình kiếm lượm được hoặc của một vị tỳ khưu nào bỏ cho thì mới gọi là vải paṃsukūla.
Vậy chớ thầy tỳ khưu hành cách lượm vải bỏ có mấy bực? Cách lượm vải dơ có 3 bực: ukkaṭṭho: bực thượng; majjhima: bực trung; mudu: bực hạ.
Giải: thầy tỳ khưu chỉ lượm vải ở trong mồ mả để may y mà thôi không hề lượm ở nơi nào khác gọi là bực thượng, nếu có thí chủ cố ý muốn làm phước (nhưng không được đem dâng tận tay) chỉ đem y bỏ một nơi nào cho người tu hành lượm, tỳ khưu lượm y ấy về may y để dùng xài thì gọi là bực trung, tỳ khưu lượm vải thí chủ muốn dâng rồi đem bỏ gần bên chân tỳ khưu đang ngồi, làm y mặc thì thuộc bực hạ.
Ba bực này khi dứt pháp đầu đà được nơi thế nào? Đáp: Khi nào thầy tỳ khưu vui thích thọ lãnh y nơi tay thí chủ đem đến dâng thì pháp đầu đà ấy sẽ đứt không còn nữa.
Không phải chỉ riêng pháp đầu đà lượm vải dơ này mà đứt rồi hết luôn dầu cho 12 pháp môn sau này cũng vậy, khi đã đứt rồi mà thầy tỳ khưu còn mến tiếc muốn thọ trì nối tiếp thì cũng có thể nguyện thọ trì mới lại và thực hành cho đúng đắn theo thứ tự của đầu đà trong ngày sắp tới cũng được thành tựu.
Quả báo của pháp môn lượm vải dơ. Trong pháp môn này, nếu thầy tỳ khưu thọ trì chín chắn không đứt thì được 12 quả báo như sau: 1) nisayānurūpappaṭipattsabhāvo: tư cách của người thực hành đúng theo lời mình hứa trong khi làm lễ xuất gia thầy tế độ dạy nên lượm vải bỏ để may y làm nơi nương nhờ: nisaya, mình tỏ ý bằng lòng bằng cách nói “dạ xin dâng”; 2) paṭhame ariyavaṃse patiṭṭhānaṃ: tư cách của người đứng vào dòng Thánh nhân thứ nhứt;[3] 3) ārakkha dukkhābhāvo: không khổ tâm vì bận rộn gìn giữ y nhiều; 4) apārayattavuttitā: tư cách người không dính líu đến kẻ khác. 5) corabhayena abhayatā: tư cách người không sợ trộm cướp lấy y; 6) paribhoga taṇhāyaabhāvo: không có ái dục khi dùng xài y; 7) samāna sāruppaparikkhāratā: tư cách người có đồ phụ tùng đúng theo cách của các bực samôn; 8) bhagavatā saṃvaṇṇitappaccayatā: có món vật dụng mà Đức Phật thường khen ngợi; 9) pasādikatā: tư cách người làm cho kẻ khác được trong sạch; 10) appicchatādīnaṃ phalanipphatti: có quả tốt do sự ít tham muốn; 11) sammāpatipattiyāanubrūhanaṃ: tư cách làm cho phát triển sự thực hành chân chính; 12) pacchimāya janatāyadiṭṭhānugati āpādanaṃ: làm gương tốt cho đoàn hậu tấn noi đó mà thực hành theo.
Hậu kệ của pháp môn pamsukūla:
“Mārasenaṃ vighātāya paṃsukūladharo yati
Sannaddhakavaco yuddhe khattiyo viya sobhati.
Pahāya kāsikādini varavatthāni dhāritam
Yam lokagaru nā ko taṃ paṃsukūlam nadhāraye
Tasmāhi attano bhikkhu paṭiññaṃ samanussaraṃ
Yog’ācārānukūlamhi paṃsukūle rato siyā.”
Giải: Đức vua thường mặc thiết giáp kĩ lưỡng trong khi ra chiến trận như thế nào thì hành giả mặc y bằng vải dơ lượm được để diệt trừ binh tướng của Ma vương cũng như thế ấy.
Dầu cho Đức Phật là thầy của chúng sanh mà còn dứt bỏ y quí giá như y trong xứ Kāsi để mặc y bằng vải dơ lượm được thay, như vậy thầy tỳ khưu nào dám khinh thường mà không mặc y bằng vải pamsukūla sao?
Bởi vậy, tỳ khưu là hành giả khi nhớ đến lời nhận lãnh của mình (trong khi xuất gia) thì cũng nên tinh tấn vui thích trong sự lượm vải dơ để may y mà mặc.
2. Pháp môn chỉ mặc tam y – tecivarikaṅga
Cách thọ trì về sự chỉ mặc tam y mà thôi, có 2 cách: 1) catutthaka cīvaraṃ patikkhipāmi: tôi xin nguyện thọ trì không dùng đến tứ y để mặc; 2) tecīvarikaṅgam samādiyāmi: tôi xin nguyện thọ trì pháp đầu đà chỉ mặc tam y mà thôi (trong 2 cách này chỉ nguyện một cách nào cũng được).
Về thầy tỳ khưu, kể từ khi đã nguyện, nếu được vải định để may y ngoài ra tam y của mình đã có, nhưng mà vì một trường hợp nào như trong người không được khỏe, lo sắp đặt cách may chưa kịp, hoặc thiếu kim, chỉ thì được phép cất giữ y ấy hoài không có lỗi về sự gìn giữ lá y thứ tư đó, nhưng mà kể từ khi đã nhuộm y ấy xong rồi mà còn cất giữ nữa thì gọi là “đại bợm” của pháp môn đầu đà ấy.
Về pháp môn này cũng có 3 bực. Bực thượng khi nhuộm y phải nhuộm y uất-đà-la-tăng trước hay an-đà-hội trước cũng được, nhưng chỉ nhuộm thứ nào 1 cái, còn 1 cái để mặc chớ không nên lấy y tăng-già-lê (2 lớp) mà vận, đây là nói về phần tỳ khưu ở nơi gần chùa, gần xóm, nếu tỳ khưu ở nơi rừng vắng nhuộm hết 1 lần cũng được, nhưng phải ngồi gần chỗ phơi y, phòng khi có người nào đi đến thì có thể lấy 1 lá y nào mặc vào cho kịp. Còn bực trung thì, nếu trong chỗ nhuộm có y casa để dùng xài trong khi nhuộm y, có thể lấy y ấy mặc đỡ để nhuộm y của mình. Bực hạ thì, có thể mặc y của thầy tỳ khưu khác để nhuộm y của mình cũng được hoặc lấy vải trải nằm của mình, của chư tăng hay của người nào đã nhuộm đúng màu casa dùng để trải xài trong chỗ ở mà mặc cũng được, nhưng chỉ mặc được trong khi nhuộm y mà thôi chớ không được gìn giữ để mặc luôn hoài. Trong 3 bực này có thể thêm 1 lá y aṅsaka: y nhỏ mang bên trong để lót mồ hôi, nhưng mà y aṅsaka ấy phải theo khuôn khổ nhứt định là: bề ngang 1 gang = 0m25, bề dài 3 hắc tay = 1m50 chưa xấp đôi lại. Pháp môn thọ trì tam y này sẽ dứt, không còn nữa khi nào tỳ khưu vui thích thọ lãnh và dùng xài tứ y luôn cả trong 3 bực.
Quả báo của sự thọ trì tam y có 11 là: 1) santuṭṭho: được tiếng là người có sự tri túc trong sự dùng xài y phục vừa để che thân; 2) samādāyevagamanaṃ: đi đâu cũng chỉ đem theo có 3 y như loài phi cầm đi đâu cũng chỉ có mang theo cặp cánh; 3) appasamārambhatā: tư cách người ít có sự bận rộn vì khỏi phải lo xếp phơi y dư; 4) vatthasannidhiparivajjanaṃ: dứt bỏ sự ưa thâu nhập tom góp y để cất giữ; 5) sallahuka vuttitā: tư cách người thực hành nhẹ nhàng; 6) atireka cīvaraloluppappahānaṃ: tư cách dứt bỏ sự tham muốn quá độ, về sự phát sanh lên y mới; 7) kappayemattakāritā: tư cách người có tiết độ trong các thứ y nên dùng;[4] 8) sallekhavuttitā: tư cách người thực hành làm cho phiền não nhẹ bớt dần; 9) appicchatādīna phalanipphatti: thành tựu được quả báo của đức tánh tri túc; 10) sammāpaṭipattiyānubrūhanaṃ: làm cho phát triển sự thực hành theo chánh pháp; 11) pacchimāya janatāya diṭṭhānugati: tư cách người làm gương lành cho đoàn hậu tấn noi theo.
Hậu kệ ngôn trong sự thọ trì tam y: “Atirekavattha taṇhaṃ pahāya sannidhivivajjito dheto santusa sukharasaññū ticīvaradharo bhavati yogī tasmā sapattacaraṇo pakkhīva sacīvarova yogivaro sukhamanuvicarītukāmo cīvaraniyame ratiṃ kayitā”.
Giải: Hành giả là bực có trí tuệ, biết rõ hương vị của sự an vui phát sanh do nơi tri túc, người hằng dứt bỏ sự ham muốn được y phục nhiều hơn tam y, người đã xa lìa sự tom góp thâu nạp thêm y phục, người chỉ mặc tam y mà thôi, bởi vậy trong Phật Pháp, bực hành giả cao thượng, khi muốn đi đâu cũng được sự an vui thì nên chỉ có tam y dính theo mình, ví như loài phi cầm đi đâu cũng chỉ có đem theo cặp cánh mà thôi. Như vậy tỳ khưu nên vui thích tam y trong sự nhứt định.

3. Pháp môn trì bình khất thực – piṇḍapātikaṅga
Trong pháp môn này có 2 cách nguyện, tỳ khưu muốn nguyện một cách nào cũng được là: atirekalābhaṃ paṭikkhipāmi: tôi nguyện xin ngăn cản không thọ lãnh vật thực nào khác ngoài vật thực mà tôi đi khất thực được; piṇḍapātikaṅgaṃ samādiyāmi: tôi nguyện thọ trì pháp môn của người chỉ đi trì bình khất thực làm pháp hành.
Tỳ khưu đã nguyện pháp đầu đà này rồi thì không được vui thích 14 thứ vật thực như sau (atirekabhatta): 1) saṅgha bhatta: vật thực người dâng cúng đến tất cả chư tăng; 2) uddesa bhatta: vật thực người chỉ thỉnh, nhứt định cho 1 hoặc 2 vị tỳ khưu từ trong tăng chúng; 3) nimantanabhatta: vật thực người thỉnh tỳ khưu đến dâng; 4) salāka bhatta: vật thực mà người bắt số được; 5) pakkhika bhatta: vật thực người nhứt định chỉ dâng trong nửa tháng 1 lần; 6) uposathika bhatta: vật thực người đem dâng trong mỗi ngày bát quan trai; 7) pāṭipadika bhatta: vật thực người nhứt định dâng trong ngày thứ nhứt của thượng huyền và hạ huyền (là ngày mùng 1 và 16 trong mỗi tháng); 8) āgantuka bhatta: vật thực người dành dâng cho tỳ khưu khách; 9) gamika bhatta: vât thực người dành dâng cho tỳ khưu khởi hành, đi xa; 10) gilāna bhatta: vật thực dành cho người bệnh; 11) gilānupatthāka bhatta: vật thực dành cho tỳ khưu nuôi bệnh; 12) vihāra bhatta: vật thực để dành dâng cho mỗi cốc, cư xá; 13) dhuva bhatta hay là dhura bhatta: vật thực người dâng luôn luôn mỗi ngày hay là vật thực để dành khi hữu sự; 14) vāra bhatta: vật thực người phân phiên nhau dâng.
Tỳ khưu khi đã thọ trì “khất thực” rồi thì không được thọ lãnh các thứ vật thực kể trên. Nhưng nếu có thí chủ thông thạo khi thỉnh chư tăng để trai tăng và xin thỉnh luôn thầy tỳ khưu này thọ thực, nếu thỉnh như vậy thầy tỳ khưu (thọ trì không phải là bực thượng) đi thọ thực cũng được, hoặc những số không phải là vật thực, như thuốc chữa bệnh phát sanh đến chư tăng, hoặc vật thực người nấu trong chùa, tỳ khưu ấy muốn thọ lãnh cũng được, không hại đến pháp đầu đà.
Pháp môn này cũng có 3 hạng. Thầy tỳ khưu bậc thượng khi đi khất thực, có người đem vật thực đến để bát, từ phía trước hoặc phía sau, đứng trước nhà họ xin bình bát đem để vật thực, khi khất thực mới về đến có người đem vật thực đến dâng đều thọ lãnh được hết thảy, nhưng khi đã ngồi xuống rồi thì không được thọ lãnh nữa. Bậc trung, dầu cho ngồi xuống cũng còn thọ lãnh được chỉ nội trong ngày ấy thôi, nhưng thọ lãnh vật thực mà họ thỉnh để ngày mai nữa thì không được. Bậc hạ, nếu có người thỉnh xin thọ thực hoặc để bát trong ngày mai nữa cũng được. Tỳ khưu trong 3 bực này khác nhau là: tỳ khưu bực trung và bực hạ không được mấy gì an vui vì tâm còn dính líu đến kẻ khác, chỉ có tỳ khưu bực thượng tâm được an nhàn, tự tại không có quyến luyến đến một nhân vật nào. Ba bực này khi vui thích thọ lãnh 14 thứ vật thực đã kể thì pháp đầu đà đã đứt mất.
Quả báo của pháp khất thực có 15 là: 1) nissay’ānurūpappaṭipatti sabhāvo: tư cách người thực hành đúng theo lời mình thọ lãnh khi xuất gia; 2) dutiye ariyavaṃse patitthānaṃ: tư cách ở vào bực thứ nhì của dòng Thánh nhân (đây là sự tri túc thứ nhì trong 4 món vật dụng); 3) aparāyattavuttitā: tư cách người thực hành không dính líu đến kẻ khác; 4) bhagavatā saṃvaṇṇitappaccayatā: vật thực mà Đức Phật thường ngợi khen (là trong sạch, tối thiểu và vô tội); 5) kosajjanimmatthanatā: tư cách dứt bỏ sự lười biếng; 6) parisuddhā jīvitā: cách nuôi mạng sống rất trong sạch; 7) sekhiyappaṭipattipūraṅaṃ: được thực hành đầy đủ ưng học pháp; 8) aparapositā: không cần nuôi kẻ khác vì có tiết độ trong sự thọ lãnh; 9) par’ānuggaha kiriyā: tư cách tế độ đến các thí chủ vì chỉ thọ lãnh chút ít trong mỗi gia đình;10) mānappahānaṃ: dứt bỏ bớt sự ngã mạn; 11) rasataṇhāya nivāranaṃ: được dứt bỏ sự ham muốn trong các hương vị khác; 12) ganabhojanaparampara bhojanacāritta sikkhāpadehi anāpattitā: khỏi lo phạm tội vì sự đồng lòng đi thọ thực, thọ thực nơi khác ngoài người thỉnh trước, hoặc để chỗ nào khác mà không kiếu từ và cho biết (vì đã thọ đầu đà nên không thọ lãnh để đi thọ các thứ vật thực ấy); 13) appicchatādinaṃ anulomavuttitā: tư cách thực hành đúng theo pháp tri túc; 14) sammāpaṭipattī brūhanaṃ: tư cách làm cho phát triển sự thực hành đúng theo chánh pháp; 15) pacchimā janat’ānukampana: làm gương tốt cho đoàn hậu tấn.
Hậu kệ ngôn của pháp trì bình khất thực:
“Pindiyālopasantuttho aparāyatta jīvako
Pahīnāhāraloluppo hoti cātuddiso yati
Vinodayati kosajjam ājivassa visujjhati
Tasmā hi nātimaññeyya bhikkhācāram sumedhaso”.
Giải: Hành giả có tâm trung bình vui thích với mỗi vắt cơm đã xin được, sự nuôi mạng sống không dính líu đến kẻ khác, đã dứt bỏ được sự ham mê trong vật thực, người có thể đi đâu trong tứ phương không trở ngại, dứt bỏ được sự biếng nhác, sự nuôi mạng của người được trong sạch. Bởi vậy, bực trí thức không nên khinh thường trong sự trì bình khất thực.
4. Pháp môn đi bát trong mỗi nhà – sapadānacārikanga
Pháp môn này có 2 cách thọ trì, hành giả muốn thọ trì cách nào cũng được. Hai cách ấy là: lokuppacāraṃ paṭikkhipāmi: tôi xin nguyện dứt bỏ sự đi khất thực theo ý muốn (là chọn lựa nhà hay xóm mà đi); sapadāna cārikaṅgaṃ samādiyāmi: tôi xin nguyện phải đi bát mỗi nhà hay mỗi xóm.
Tỳ khưu nguyện pháp đầu đà này khi đi đến cửa cổng vào xóm phải đứng lại quan sát sự tai hại (như chó dữ v.v…) nếu nơi xóm ấy có sự tai hại thì bỏ xóm ấy đi xóm khác cũng được. Hơn nữa, nếu nhà, xóm nào mà không từng được vật thực chỉ chút ít thì nên tưởng trong tâm rằng: “đây không phải là nhà là xóm” rồi đi nơi khác cũng được, nhưng nếu chỉ được vật chi chút ít nơi nhà hay xóm ấy thì không nên đi bỏ qua.
Như vậy, tỳ khưu phải đi khất thực cho sớm, sợ vào xóm nào gặp sự tai hại phải đi qua xóm khác cho kịp giờ. Nếu gặp những người họ đến làm phước trong chùa hoặc gặp giữa đường và họ xin lấy bình bát để vật thực đem dâng cho thọ lãnh cũng được. Tỳ khưu này khi đi đường xa mà đến buổi khất thực thì dầu cho nhà hay xóm nào có được vật thực hay không, cũng không được phép bỏ qua phải khất thực theo thứ lớp.
Pháp môn này cũng có 3 hạng. Bực thượng, khi có người đem vật thực từ phía trước, phía sau hoặc về tới chỗ rồi có người đem dâng đều không được phép thọ lãnh, nhưng nếu đứng trước nhà, trong nhà có người ra lãnh lấy bình bát để vật thực vào đem dâng cho thì thọ lãnh được. Bực trung, thọ lãnh các thứ vật thực này được hết, nhưng không được phép ngồi chờ coi có ai đem đến không. Bực hạ, ngồi chờ cũng lãnh được miễn là nội trong ngày ấy. Tất cả 3 bực này khi tâm phát sanh lên muốn đi khất thực lựa nhà hay xóm theo ý muốn thì pháp đầu đà ấy bị đứt mất.
Quả báo của pháp môn đi khất thực mỗi nhà có 8 là: 1) kulesu niccanavakatā: tư cách người luôn luôn đi đến mỗi nhà; 2) candupamatā: tư cách quí báu như mặt trăng vì không có quyến luyến trong gia đình nào; 3) kula maccherappahānaṃ: dứt bỏ được sự bỏn xẻn trong các gia quyến; 4) samānukampitā: tư cách tế độ đến tất cả các gia quyến; 5) kul’upakādīnavā bhāvo: không có tội lỗi về sự đến nhà người; 6) avhān’ānabhinandanā: không vui thích lời người mời thỉnh; 7) abhihārenaanattikatā: tư cách người không cần vật thực người mang đến dâng; 8) appicchatādīnaṃanulomavuttitā: có tư cách người thực hành theo đúng pháp tri túc.
Hậu kệ ngôn của pháp môn đi bát trong mỗi nhà: “Candūpamo niccanavo kulesu amacchavī sabba samānukampo kul’ūpakādīnavavuppamutto hotidha bhikkhu sapadānacārī loluppacāraṃ pajahāya tasmā okkhitta cakkhu yugamattadasī ākankhamāno bhuri seracāraṃ careyya dhīro sapadanacaraṃ”.
Giải: Tỳ khưu trong Phật Pháp đã nguyện đi bát trong mỗi nhà ví như mặt trăng, thường đến cửa nhà của các gia quyến, không có tâm bỏn xẻn trong các gia đình, nhưng có sự tế độ đồng đều trong tất cả gia quyến, hoàn toàn thoát khỏi những tội lỗi phát sanh lên trong khi đi vào các gia đình thí chủ. Bởi vậy, các bực trí thức khi muốn châu du nơi nào trên vũ trụ này cũng được theo ý muốn thì nên dứt bỏ sự đi khất thực cách tham muốn (là lựa nhà hay xóm mà đi) nên chỉ nhìn xuống và khi ngó tới trước chỉ lối 2 thước mà thôi và nên thọ trì pháp đầu đà “đi bát trong mỗi nhà”.
5. Pháp môn thọ thực trong một chỗ ngồi – ekāsanikaṅga
Trong pháp môn này cũng có 2 cách thọ trì, thầy tỳ khưu hay hành giả muốn nguyện cách nào cũng được: nānāsanabhojanam paṭikkhipāmi: tôi xin nguyện không có thọ thực ngồi nhiều chỗ (thọ nhiều lần); ekāsanikaṅgam samādiyāmi: tôi xin nguyện thọ trì pháp đầu đà chỉ thọ thực trong một chỗ (là chỉ thọ thực một lần mà thôi).
Tỳ khưu nguyện pháp môn này khi vào thọ thực trong trai đường thì không nên ngồi chỗ các vị thượng tọa, phải dựa chỗ ngồi nào cho thuận tiện, đang khi thọ thực có thầy tế độ hay thầy hướng dẫn đi đến thì nên đứng dậy tiếp rước nhưng khi đã đứng dậy rồi không được ngồi trở lại thọ thực nữa.
Pháp đầu đà này cũng có 3 bực. Bực thượng: Khi đã thọc tay vào thọ thực trong món nào (chén, đĩa nào) dầu ít hay nhiều thì chỉ được phép thọ bấy nhiêu thôi, chớ không được lãnh lấy món khác nữa, nhưng nếu có người thấy tỳ khưu ấy thọ thực ít quá họ đem sữa lại dâng nếu tỳ khưu thọ lãnh bằng cách để làm thuốc ngừa bịnh thì được, nếu làm với ý để thế vật thực vì mình thọ thực ít thì không nên. Bực trung: nếu trong chén hay bát đương ăn còn vật thực thì có thể thọ lãnh thêm nữa được. Tỳ khưu này chấm dứt khi vật thực trong bát đã hết. Bực hạ: nếu chưa đứng dậy đến lúc nào thì có thể thọ thực đến lúc ấy. Tỳ khưu này gọi chấm dứt khi lãnh nước uống, hay là còn ngồi đến lúc nào thì được thọ thực hoài đến khi nào đứng dậy thì mới chấm dứt buổi thọ thực trong ngày ấy. Tỳ khưu trong 3 bực này khi nào vui thích thọ thực trong nhiều chỗ ngồi (nhiều lần) thì pháp đầu đà ấy đã đứt.
Pháp môn này khi thọ trì tròn đủ thì được 8 quả báo: 1) appābādhatā: ít bị bịnh hoạn; 2) appātaṅkatā: sống được nhẹ nhàng là không có khổ trong thân; 3) lahuṭṭhānaṃ: sự đi đứng được nhẹ nhàng mau lẹ; 4) balaṃ: có sức mạnh; 5) phāsuvihāro: tư cách được yên vui; 6) anatirittappaccayāanāpatti: không phạm tội vì thọ thực nhiều lần mà vật thực ấy không làm đúng luật; 7) rasataṅhāyavinodanaṃ: làm giảm bớt sự ham muốn trong vị trần; 8) appicchatādīnaṃ anuloma vuttitā: tư cách thực hành đúng theo đức lành của pháp tri túc.
Hậu kệ ngôn của sự thọ thực trong 1 lần: “Ekāsanabhojane rataṃ na yatiṃ bhojanapaccayā rujā vasabantirase aloluppoparihāpeti nakammamattano iti phāsuvihārakāraṅe sucisalie kharatupasevite janayetha visuddhamānaso ratimekāsana bhojane yati”.
Giải: Tất cả tật bịnh nào phát sanh lên do nơi sự thọ thực quá độ, không thể nào làm hại cho đau khổ đến hành giả đã thọ trì thọ thực trong một lần, sự tham muốn trong vị trần không làm cho sự tinh tấn của vị ấy phải hư hoại. Bởi vậy hành giả có tâm thanh tịnh nên làm cho sự vui thích phát lên để thọ trì pháp thọ thực trong một lần là nguyên nhân đem lại sự an vui trong thân thể mà thầy tỳ khưu ưa thích trao dồi những đức lành gần kề để thọ trì pháp môn này.
#tinhtam
#phatphap
#TyKhuuBuuChon
#phapdauda
#theravada
Theo nguồn: https://theravada.vn/book/phap-dau-da-dhuta%e1%b9%85gakatha-ty-khuu-buu-chon/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TẠNG KINH – TIỂU BỘ – MILINDA VẤN ĐẠO – NGÀI INDACANDA DỊCH

  Vị vua ấy tên là Milinda ở kinh thành Sāgalā đã đi đến gặp Nāgasena, ví như dòng sông Gaṅgā đi đến với biển cả.  Sau khi đi đến gần vị có ...