Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020

Pháp Kết Giới SĪMĀ – Tỳ Khưu Bửu Chơn

Trong Phật giáo, tăng sự là một việc làm tối quan trọng của chư tăng, mà tăng sự hợp pháp, thành tựu hay không cũng đều do nơi chỗ có “kết giới – sīmā” cả.

Phi Lộ
Trong Phật giáo, tăng sự là một việc làm tối quan trọng của chư tăng, mà tăng sự hợp pháp, thành tựu hay không cũng đều do nơi chỗ có “kết giới – sīmā” cả.
Vì vậy mà muốn cho tăng sự trong sạch hợp pháp thì cần phải có sīmā đúng phép là không bị hư hỏng. Mà nếu sīmā bị hư hỏng thì tất cả tăng sự (saṅghakamma) đều hư hỏng.
Bởi thế cho nên chỗ kết giới sīmā cần phải thận trọng kỹ lưỡng để tránh những sự đáng tiếc xảy ra khi hành tăng sự.
Bần tăng nhận thấy Phật giáo Nam Tông càng ngày càng tiến triển, tăng sự càng nhiều, có khi chỉ làm theo cổ truyền thói quen bừa bãi, thành ra tăng sự lần lần sai lệch không đúng với chánh truyền của Đức Phật, nên mới cố gắng soạn quyển “Pháp Kết giới Sīmā” này dựa theo Tam Tạng quyển 6 trang 254-345, quyển Sīmā Vinicchaya của Đ.Đ Visuddhivanga và quyển Atthakathā Vannānā để giúp thêm một tài liệu cho chư tăng và hàng tri thức chiêm nghiệm, nghiên cứu cho rõ ràng, thế nào là sīmā trong sạch, thế nào là sīmā không hợp pháp.
Do quả phước của sự biên soạn này tôi xin thành tâm hồi hướng đến giác linh của các bậc thầy tổ và song thân đã quá vãng, xin được thọ lãnh phần phước pháp thí này và tăng trưởng các sự an vui nơi nhàn cảnh. Và cũng hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong 3 giới, 4 loài đồng được thọ hưởng phước báu đều nhau hết thảy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Mong thay!
Nāga Mahā Thera – Tỳ khưu Bửu Chơn
9/2515 – 1971
Namatthu ratanattāyassa – Xin thành kính đảnh lễ ân đức Tam Bảo
Pháp Kết Giới – Sīmā
A. Nguyên Nhân
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự trên núi Kỳ Xà Quật (Gijjhakuta) gần thành Vương Xá (Rājagaha).Sau khi Ngài yên tịnh trong thiền định, bèn suy nghĩ như vầy: Như Lai nên chế định các điều học, để làm giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa cho các thầy tỳ khưu làm lễ “Phát lộ” (Uposathakamma). Nghĩ xong Đức Phật cho gọi các thầy tỳ khưu lại mà lịnh rằng: “Như lai cho phép các thầy làm lễ Phát lộ trong nửa tháng một lần”. Nhân cớ ấy các thầy tỳ khưu nhóm “lục sư” (Chabbaggiya) rủ nhau làm riêng để Phát lộ với nhóm của mình thôi. Tin này thấu đến Đức Phật, Ngài bèn ra lịnh rằng: “Các Thầy nên hòa hợp nhau mà làm lễ Phát lộ”. Các Thầy không biết hòa hợp nhau bằng cách nào và phạm vi chỗ ở bao lớn, nên bạch với Đức Phật. Nhân dịp ấy Ngài mới lịnh cho làm pháp Kết Giới Sīmā.
B. Cách Kết Giới Sīmā
Trước hết chúng ta nên biết ý nghĩa của chữ “sīmā” là thế nào? Sīmā là tiếng gọi chung một ranh giới của một nơi nào. Vì vậy mà sīmā trước hết chia làm hai là: baddhasīmā: ranh giới do chư tăng đọc tuyên ngôn có trụ hoặc một vật chi để làm giới hạn; abadha sīmā: ranh giới chư tăng không cần tuyên ngôn để kết giới.
I. Giải về baddhasīmā
Sīmā nào mà chư tăng làm; tránh khỏi 11 điều hư hỏng của sīmā và làm đúng theo 3 điều tròn đủ và cột trụ ranh này, với trụ ranh kia cho đều đủ và đọc tuyên ngôn đúng phép gọi baddhasīmā.
Đây giải về 11 điều hư hỏng (vipatti). 1) Atikhuddakā: sīmā nhỏ quá không đủ cho 21 vị tỳ khưu ngồi hành tăng sự. 2) Atimahati: sīmā lớn hơn 3 do tuần
[1]. 3) Khaṇḍa nimittā: sīmā ranh giới không liền nhau, nghĩa là khi hỏi ranh hướng đông, rồi hỏi qua ranh hướng kế là hướng nam, hướng tây, hướng bắc, rồi ngưng lại không hỏi nữa, như vậy ranh giới sīmā không liền nhau, hoặc hỏi ranh hướng đông rồi hỏi qua hướng tây, hướng bắc rồi ngưng lại, như vậy cũng gọi ranh giới không liền nhau hoặc lấy vật không đáng làm ranh giới như lấy cây chuối, cây tre, cây dừa đều là loại cây không có lõi cũng không được. 4) Chāyā nimittā: lấy bóng làm ranh giới như bóng núi. 5) Animittā: sīmā không lấy vật chi làm ranh giới cả. 6) Bahi sīmā thitasammatā: đứng ngoài ranh giới sīmā mà đọc tuyên ngôn chỉ định. 7) Nadiyā sammatā: chỉ định sīmā trong sông rạch. 8) Samudde sammatā: chỉ định sīmā trong biển cả. 9) Jātassare sammatā: chỉ định sīmā trong sao hồ thiên nhiên. Sīmā từ số 7 đến số 9, dầu cho tăng có làm sīmā cũng không gọi sīmā nghĩa là không thành tựu sīmā vì Đức Phật có dặn rằng: “Sabbā bhikkhave nadῑ asīmā, sabbo samuddo asīmo, sabbo jātassaro asimo – Này các thầy tỳ khưu, toàn diện bể cả, toàn diện sông, rạch, toàn diện ao, hồ đều không thể làm sīmā được”. 10) Sīmā sīnaṃ sambhindantena sammatā: làm hư hỏng sīmā cũ của các vị tỳ khưu khác bằng cách đè lên sīmā cũ của họ bằng một sợi tóc, do sīmā mới làm của mình hoặc đè lên cỡ 4 vị tỳ khưu ngồi không vừa. 11) Sīmā sīnaṃ ajjhottharantena sammatā: kết giới sīmā mới của mình đè sâu vào sīmā của các vị khác đủ cho 4 vị tỳ khưu ngồi hay là đè trọn lên sīmā của các vị khác.
Khi kết giới sīmā mà gặp trường hợp 11 điều kể trên thì sīmā ấy đều bị hư hỏng hành tăng sự không thành tựu.
Sự tròn đủ – sampatti có 3: nimitta sampatti: tròn đủ ranh giới (vật làm ranh); parisa sampatti: tròn đủ số tăng hội; kammavācā sampatti: tròn đủ lời tuyên ngôn. Giải rằng:
Tròn đủ ranh giới có 8 thứ như: 1) Pabbata nimittaṃ: lấy núi làm ranh, núi ấy có 3 thứ: núi toàn đất, núi toàn đá, núi cả đất lẫn đá. Cỡ núi lớn bằng con voi cho đến bằng núi Tu di đều có thể lấy làm ranh được nếu nhỏ hơn con voi hoặc lớn hơn núi Sineru hoặc núi toàn là cát, cũng không dùng làm ranh giới được. 2) Pāsāna nimittaṃ: lấy tảng đá làm ranh, tảng đá cỡ nhỏ hơn hết, bằng cục đường mía băng lối 32 palla: cỡ 64 cân chúng ta dùng hằng ngày, nếu nhỏ hơn nữa thì không dùng được nhưng nếu lớn bằng con bò, con trâu thì được, nhưng lớn hơn đó nữa thì cũng không nên. Như lấy gạch cục lớn hoặc gom đá nho nhỏ nhiều lại thành một đống cũng không được. 3) Vana nimittaṃ: lấy rừng làm ranh, nếu rừng đó toàn là cỏ hay cây có lõi bên ngoài như cây dừa, cây thốt nốt cũng không nên lấy làm ranh, nếu rừng có đều cây có lõi bên trong như cây dầu, cây vang ít lắm lối 4 hoặc 5 cây thì mới nên làm ranh. 4) Magga nimittaṃ: lấy đường đi làm ranh, đường đi ấy nếu vắn, nhỏ để đi vào rừng hoặc ruộng rẫy thì không nên làm ranh, đường dài, đi xa người và xe bò thường qua lại thì mới nên dùng làm ranh. 5) Vammika nimittaṃ: lấy gò mối làm ranh, gò mối ấy cỡ thấp nhất lối 8 ngón tay (cỡ một tấc 7 phân) bề kính tròn lối bằng sừng bò, như vậy lấy làm ranh được, còn thấp và nhỏ hơn đó thì không nên. 6) Nadī nimittaṃ: lấy sông rạch làm ranh, sông rạch ấy nước chảy luôn luôn hoặc nơi nào trong 4 tháng mùa mưa, nước chảy không dứt chỗ ấy cũng có thể gọi là sông rạch (chú giải có nói 4 tháng mùa mưa, nước chảy không dứt, nước sâu vừa cho vị tỳ khưu ni mặc y nội đúng luật, lội ngang qua vừa ướt mí y cũng gọi là rạch) đều lấy làm ranh được. 7) Udaka nimittaṃ: lấy nước làm ranh, nước ấy nếu để trong ghè, trong lu hoặc một vật đựng nào đều không thể lấy làm ranh được, nước ấy là nước đọng trên mặt đất, trong lỗ trống hoặc ao, hồ hoặc nước của đại dương đều lấy làm ranh giới được hết. Hơn nữa nếu chỗ ấy không có nước đọng, đào đất cho có lỗ sâu rồi đổ nước vào cho đầy, nước này khi tụng tuyên ngôn xong, mà còn nước chưa cạn hết, thì mới nên làm ranh giới được, sau khi làm lễ nếu nước ấy cạn đi thì nên lấy cây, đá làm trụ để ghi nhớ. 8) Rukkha nimitta: lấy cội cây làm ranh (xem tr.258 phần Pāli – 259 phần tiếng Việt của Đại phẩm 1).
Tám vật dùng làm ranh đã kể trên đều nên dùng làm ranh giới được hết thảy, nếu mỗi vật mỗi thứ giống nhau hay khác nhau như núi, đá, rừng lẫn lộn với nhau cũng đều làm ranh giới được hết. Hơn nữa số ranh giới ấy không có hạn định là bao nhiêu nhưng kể từ 3 ranh[2] sắp lên đến hằng 100 ranh cũng được. Nếu sīmā nào mà có 4 trụ ranh thì sīmā ấy có hình 4 góc vuông hoặc vuông dài như cái trống, nếu tuyên bố nhiều ranh chừng nào thì hình dáng sīmā ấy khác nhau, tùy theo địa thế của ranh.
Vì cách chỉ định ranh giới, nấy trong 8 thứ ranh ấy có đủ rồi thì vị tỳ khưu luật sư hỏi ranh hướng đông trước “Puratthimāya disāya kiṃ nimittaṃ – hướng đông vật chi làm ranh giới?”. Lúc ấy có tỳ khưu, sa di hay một thiện tín nào cũng có thể trả lời, nếu hướng đông có ranh bằng đá thì trả lời rằng “Pāsāno bhante – Bạch Ngài đá”. Kế đó vị luật sư nhìn nhận ranh ấy và nói rằng: “Eso pāsāno nimittaṃ – ranh này là đá”. Về cách hỏi và trả lời theo thứ tự của mỗi hướng, chỉ khác có tên hướng và vật làm ranh giới mà thôi. Nếu sīmā có 8 trụ ranh khi hỏi hướng đông rồi thì hỏi quá hướng đông nam rằng: “Puratthimāya anudisāya kiṃ nimittaṃ – hướng đông nam lấy vật chi làm ranh giới?” Nếu hướng nam thì hỏi “Dakkhināya disāya kiṃ nimittaṃ – hướng đông nam lấy vật chi làm ranh giới?”Nếu hướng tây nam thì hỏi: “Dakkhināya anudisāya kiṃ nimittaṃ – hướng tây nam vật chi làm ranh giới?” Nếu hướng tây thì hỏi “Pacchimāya disāya kiṃ nimittaṃ – hướng tây vật chi làm ranh giới?”Nếu hướng tây bắc thì hỏi “Pacchimāya anidisāya kiṃ nimittaṃ – hướng tây bắc lấy chi làm ranh giới?” Nếu hướng bắc thì hỏi “Uttarāya disāya kiṃ nimittaṃ – hướng bắc lấy vật chi làm ranh giới?”Nếu hướng đông bắc thì hỏi: “Uttarāya anudisāya kiṃ nimittaṃ – hướng đông bắc lấy vật chi làm ranh giới?”.
Về cách trả lời nếu hướng ấy là núi thì nói “Pabbato bhante”. Khi xác định thì nói “Eso Pabbato nimittaṃ – ranh này là núi”. Nếu rừng thì nói “Vanaṃ bhante”. Nếu cây thì nói “Rukkho bhante”. Nếu đường đi thì nói “Maggo bhante”. Nếu sông rạch thì nói “Nadī bhante”. Nếu nước đọng thì nói “Udakaṃ bhante” rồi vị luật sư xác định lại là “Etaṃ udakaṃ nimittaṃ – ranh này là nước”.
Khi hỏi và trả lời mỗi hướng theo thứ tự xong thì nên hỏi lại ranh giới hướng đông một lần nữa, đề bao vây sīmā lại, cách hỏi và trả lời đúng phép như trên thì gọi là “ranh giới tròn đủ”.
Tròn đủ tăng hội là Chư tăng cu hội để làm lễ kết giới ít nhất cũng phải 4 vị còn nhiều thì vô hạn định, đồng cu hội lại một chỗ trong sīmā mới như vậy gọi là tròn đủ tăng hội.
Tròn đủ lời tuyên ngôn là tỳ khưu rành luật đọc nhị sự tuyên ngôn đúng theo giọng của mỗi chữ là không có lầm lộn giọng nhẹ và lẹ ra giọng nặng và chậm hoặc ngược lại nghĩa là đọc đúng giọng Pāli như vậy gọi là tuyên ngôn tròn đủ (Pāli tuyên ngôn sẽ chỉ phía sau).
Sīmā nào tránh khỏi 11 điều hư hỏng và được tròn đủ 3 điều như đã kể gọi là badhhasīmā: là sīmā có đọc tuyên ngôn cột lại.
Baddha sīmā – sīmā có cột ranh giới có 3 loại: samāna saṃvāsa sīmā: sīmā mà tất cả chư tăng có phận sự đồng nhau phải hòa hợp lại để làm tăng sự; avippavāsa sīmā: là sīmā mà chư tăng tuyên ngôn đề lên trên samāna samvāsa sīmā để cho chư tăng được phép xa cách tam y đã nguyện (là khỏi cần phải gần bên tam y 1 hoắc 1 gang khi mặt trời sắp mọc); khaṇḍa sīmā: sīmā nhỏ chư tăng đọc tuyên ngôn một chỗ nào trong đại sīmā đặng làm tăng sự nhất là để cho thọ cụ túc giới cho dễ dàng là khỏi nghi ngờ có các vị tỳ khưu vào trong đại sīmā khi mình đang làm tăng sự.
Về cỡ khaṇḍa sīmā, nếu nhỏ nhất là vừa cho 21 vị tỳ khưu ngồi đúng luật, nhỏ hơn thì không nên còn lớn hơn thì cỡ 100 vị ngồi cho vừa cũng được.
Về cách đọc tuyên ngôn để kết giới khaṇḍa sīmā là phải đọc tuyên ngôn ‘samāna saṃvāsasīmā’ trước rồi sau mới đọc tuyên ngôn ‘avippavāsa sῑmā’ sau. Bởi vậy khi đọc tuyên ngôn hủy bỏ cũng phải đọc hủy ‘avippavāsa sῑmā’ này ở trên rồi mới được hủy bỏ ‘samāna saṃvāsa sīmā’ sau (vì sīmā này ở phía dưới). Về đọc tuyên ngôn hủy bỏ có 2 lý do: sīmā nhỏ, tăng muốn làm cho lớn ra; sīmā lớn, tăng muốn làm cho nhỏ lại để chỗ cho chùa khác, rồi đọc tuyên ngôn làm sīmā nhỏ lại.
Về baddha sīmā chư tăng đã tuyên ngôn cột có ranh giới như mahā sīmā hay khaṇḍa sīmā rồi thì nếu khi hết hiệu lực có 2 duyên cớ là: chư tăng đồng lòng đọc tuyên ngôn hủy bỏ, do mãn thời kỳ Phật pháp 5000 năm.
  • Pāli đọc hủy bỏ sīmā được xa lìa tam y:
“Sunātume bhante saṅgho, yo so saṅghena ticīvarena avippavāso sammato, yadi saṅghassa patta kallaṃ saṅgho taṃ ticīvarena avippavāsaṃ samūhaneyya esā ñātti.
Sunātu me bhante saṅgho, yo so saṅghena ticīvarena avippavāso sammato, saṅgho taṃ ticīvarena avippavāsaṃ samūhanatī yass’āyasmato khamati etassa ticīvarena avippavāsassa samugghāto so tuṇhassa yassa nakkhamatī so bhāseyya. Samūhato so saṅghena ticīvarena avippavāso sammato saṅgho taṃ ticīvarena avippavāsaṃ samūhanatī, yassāyasmato khamati etassa ticīvarena avippavāsassa samugghāto so tuṇhassa yassa nakkhamatī so bhāseyya. Samūhato so saṅghena ticīvarena avippavāso khamati saṅghassa tasmā tuṇhī evame taṃ dhārayāmi”.
Nghĩa: “Bạch đại đức tăng xin chư tăng nghe tôi trình, nơi nào mà chư tăng đã tuyên ngôn chỉ định cho phép xa lìa tam y, nếu tăng sự này hợp thời thì tăng nên hủy bỏ nơi xa lìa tam y ấy, đây là lời tôi trình chư tăng rõ.
Bạch đại đức tăng, xin chư tăng nghe tôi trình, nơi nào mà chư tăng đã tuyên ngôn cho phép xa lìa tam y, bây giờ tăng hủy bỏ nơi xa lìa tam y ấy, sự hủy bỏ nơi chỉ định cho phép xa lìa tam y ấy, nếu đồng ý đến vị nào thì xin vị ấy làm thinh, còn nếu không vừa ý đến vị nào thì xin vị ấy nói lên cho biết. Nơi mà được phép xa lìa tam y tăng đã đồng ý hủy bỏ rồi bởi vậy chư tăng mới làm thinh. Tôi ghi nhận sự đồng ý này do nơi sự làm thinh ấy”.
  • Pāli đọc hủy bỏ sīmā đồng tăng sự:
“Sunātu me bhante saṅgho, yā sā saṅghena sīmā sammatā samānasaṃvāsā ek’uposathā yadi saṅghassa pattakallaṃ saṅgho taṃ sīmaṃ samūhaneyya esā ñatti.
Sunātu me bhante saṅgho, yā sā saṅghena sīmā sammatā samānasaṃvāsā ek’uposathā saṅgho taṃ sīmaṃ samūhanati, yass’āyamasmato khamati etissā sīmāya samānasaṃvāsāya ek’uposathāya samugghāto, so tuṇhassa, yassa nakkhamati so bhāseyya.
Samūhatā sā sīmā saṅghena samānasaṃvāsā ek’uposathā khamati saṅghassa tasmā tuṇhī evame taṃ dhārayāmi”.
Nghĩa: “Bạch đại đức tăng, xin tăng nghe tôi trình sīmā nào mà tăng đã chỉ định rồi để hòa hợp nhau lại làm tăng sự như lễ Phát lộ, nếu tăng sự này hợp thời đến chư tăng thì tăng nên hủy bỏ sīmā ấy, đây là lời tôi trình tăng rõ.
Bạch đại đức tăng, xin tăng nghe tôi trình, sīmā nào mà tăng đã chỉ định rồi để hòa hợp nhau lại làm tăng sự như lễ Phát lộ. Bây giờ tăng hủy bỏ sīmā ấy. Sự hủy bỏ sīmā có tánh cách hòa hợp nhau lại làm tăng sự như lễ Phát lộ ấy đồng ý đến vị nào thì xin vị ấy làm thinh, còn không vừa ý đến vị nào thì xin vị ấy nói lên cho biết. Sīmā mà có tánh cách hòa hợp nhau lại làm tăng sự như lễ Phát lộ ấy tăng đã hủy bỏ rồi, bởi vậy tăng mới làm thinh. Tôi xin ghi nhận sự đồng ý này, do nơi sự làm thinh ấy”.
  • Pāli đọc tuyên ngôn làm sīmā đồng tăng sự (T .Tg 6è 348 ):
“Sunātu me bhante saṅgho, yāvatā sammatā nimittā kittitā yadi saṅghassa pattakallaṃ saṅgho etehi nimittehi sīnaṃ sammanneyya samānasaṃvāsaṃ ek’uposathaṃ esā ñatti.
Sunātu me bhante saṅgho, yāvatā sammatā nimittā kittitā, saṅgho etehi nimittehi sīmaṃ sammannati samānasaṃvāsaṃ ek’uposathaṃ yass’āyasmato khamati etehi nimittehi sīmāya sammati samānasaṃvāsāya ek’uposathāya, so tuṇhassa, yassa nakkhamati so bhāseyya. Samatā (sā) sīmā saṅghena etehi nimittehi amānasaṃvāsāya ek’uposathā khamati saṅghassa tasmā tuṇhi evame taṃ dhārayāmi”.
Nghĩa: “Bạch đại đức tăng, xin tăng nghe tôi trình, các ranh giới đã chỉ định chung quanh đến đâu rồi, nếu tăng sự này hợp thời, tăng nên chỉ định sīmā có tánh cách hòa hợp để làm tăng sự như lễ Phát lộ, do nơi các ranh giới ấy, đây là lời tôi trình tăng rõ.
Bạch đại đức tăng, xin tăng nghe tôi trình, các ranh giới đã chỉ định chung quanh đến đâu, bây giờ tăng tuyên bố kết giới sīmā có tánh cách hòa hợp với nhau để làm tăng sự như lễ Phát lộ, do nơi các ranh giới ấy.
Sự tuyên bố kết giới sῑmā có tánh cách hòa hợp với nhau để làm tăng sự như lễ phát lộ, do nơi các ranh giới ấy. Nếu đồng ý đến vị nào rồi thì xin vị ấy làm thinh, còn không vừa ý đến vị nào thì xin vị ấy nói lên cho biết.
Tăng đã đồng ý chỉ định sīmā có tánh cách hòa hợp với nhau để làm tăng sự như lễ Phát lộ, do nơi các ranh giới ấy. Tăng đã đồng ý rồi nên tăng mới làm thinh. Tôi xin ghi nhận sự đồng ý này, do nơi sự làm thinh ấy”. 
#tinhtam
#phatphap
#TyKhuuBuuChon
#ducphat
#theravada
Theo nguồn: https://theravada.vn/book/phap-ket-gioi-sima-ty-khuu-buu-chon/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TẠNG KINH – TIỂU BỘ – MILINDA VẤN ĐẠO – NGÀI INDACANDA DỊCH

  Vị vua ấy tên là Milinda ở kinh thành Sāgalā đã đi đến gặp Nāgasena, ví như dòng sông Gaṅgā đi đến với biển cả.  Sau khi đi đến gần vị có ...