Người Phật tử thuần thành là hiểu rõ Ân đức Tam bảo, mới có đức tin trong sạch ăn sâu vào ngôi Tam bảo được. Vì vậy, nên bần tăng nhận thấy ân đức Tam bảo rất cần thiết cho người tu Phật, xuất gia cũng như tại gia.
Phi Lộ
Người Phật tử thuần thành là hiểu rõ Ân đức Tam bảo, mới có đức tin trong sạch ăn sâu vào ngôi Tam bảo được. Vì vậy, nên bần tăng nhận thấy ân đức Tam bảo rất cần thiết cho người tu Phật, xuất gia cũng như tại gia.
Ân đức Phật bảo được xuất bản lâu rồi, nhưng chỉ còn hai Ân đức Pháp bảo và Ân đức Tăng bảo chưa có dịp phiên dịch mà thôi.
Nay mặc dù bận nhiều Phật sự, nhưng do yêu cầu của nhiều Phật tử nên mới cố gắng phiên dịch thêm cho đủ ba ân đức quan trọng của Tam bảo.
Do công đức phiên dịch này, bần tăng hồi hướng đến thầy tổ và song thân đã quá vãng, cầu xin oai lực pháp thí này cho các ngài được tăng trưởng nhiều sự an vui nơi nhàn cảnh. Và cũng cầu cho oai lực pháp thí này sẽ đem lại sự an vui cho tất cả chúng sanh trên thế giới nhứt là cho dân tộc Việt Nam được sớm thanh bình, an lạc.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Rất mong thay!
Đại Trưởng Lão Bửu Chơn (Nāga Mahā Thera)
Cố vấn Tinh thần Phật giáo Thế giới.
Vấn: Tiếng nói “Pháp” (Dhamma) có ý nghĩa ra sao? Và có ân đức như thế nào?
Đáp: Tại nơi đây, Pháp có trạng thái thực tế, chắc chắn hay là một phương châm đúng đắn và tốt đẹp. Pháp có ân đức để giữ gìn, bảo vệ cho chúng sanh nào thực hành theo đúng đắn, không cho sa vào nơi thấp hèn, cho thoát khỏi cảnh khổ. Pháp có tính cách soi sáng cho chúng sanh nào còn tối tăm mê muội, cho thấy rõ điều phải lẽ quấy, tội phước và con đường hành trình đến Thiên giới và Niết-bàn, và chỉ rõ cho thấy sự an vui, hạnh phúc. Pháp ví như ngọn đèn, hay mặt trời có tính cách soi sáng cho chúng sanh trong cõi thế gian làm cho mất sự tối tăm u ám. Một khi sự tối tăm đã mất đi rồi thì chúng sanh có thể thấy rõ con đường yên ổn, tốt đẹp đưa đến cảnh an vui, thanh tịnh.
Vấn: Ân đức Pháp chỉ có bấy nhiêu đó hay là còn chi khác nữa?
Đáp: Còn rất nhiều ân đức khác nữa, như là: Pháp học (pariyatti dhamma); Pháp hành (patipatti dhamma); Pháp thành (pativedha dhamma) (chín Thánh pháp: bốn đạo, bốn quả và Niết-bàn) mà Đức Phật đã thuyết ra một cách hoàn hảo và tốt đẹp.
Vấn: Thế nào gọi là “Pháp học” và thiện hảo như thế nào?
Đáp: Pháp dùng trong việc nghiên cứu học hỏi, đọc tới đọc lui cho thuần thục, gọi là Pháp học (pariyatti dhamma), là chủ yếu đến tất cả Phật ngôn trong Tam Tạng, là Pháp học mà Đức Phật đã khải thuyết thiện hảo trong phần đầu (sơ thiện), thiện hảo trong phần giữa (trung thiện) và thiện hảo trong phần cuối (hậu thiện).
Giải thích rằng: Đức Thiên Nhân Sư chỉ khải thuyết một câu kệ gồm bốn câu cũng thiện hảo trong ba giai đoạn, là khởi câu đầu thì thiện hảo ở phần đầu, thuyết đến câu thứ hai và câu thứ ba thì thiện hảo ở phần giữa, và thuyết đến câu thứ tư thì thiện hảo ở phần cuối. Nếu thuyết về bài kinh thì thiện hảo ở phần đầu là ở chỗ câu chuyện và nguyên nhân phát sanh lên bài pháp ấy, thiện hảo ở phần giữa là uyên bác, chính xác vừa thích hợp cho trình độ chúng sanh hay nhân vật ấy được thính pháp đúng theo lý luận, thiện hảo ở phần cuối là thêm nguyên nhân để đưa hàng thính chúng ấy có đức tin (saddhā). Hơn nữa, Giáo pháp của Đức Phật thiện hảo ở phần đầu là giới, thiện hảo ở phần giữa là thiền định, minh sát, đạo và quả, thiện hảo ở phần cuối là Niết-bàn. Nói một cách khác nữa, là thiện hảo ở phần đầu là thiền định, thiện hảo ở phần giữa là minh sát và đạo, thiện hảo ở phần cuối là quả và Niết-bàn. Lại nữa, Giáo pháp của Đức Phật là đem lại rất nhiều điều lợi ích cho hàng thính chúng được dứt bỏ, đè nén các pháp triền cái hay là pháp ngăn cản. Bởi vậy cho nên thiện hảo ở phần đầu là đem lại ân đức quý báu cho người thực hành theo, thiện hảo ở phần cuối là đem sự lợi ích rất cao thượng cho hành giả là chứng đắc được đạo quả Niết-bàn.
Hơn thế nữa, Đức Phật đã khải thuyết về Pháp học rất thiện hảo và tốt đẹp, đầy đủ chi tiết về “Phạm hạnh và đạo hạnh”.
Giải thích rằng: Huấn từ mà Đức Phật đã giảng thuyết gọi là “Phạm hạnh”, con đường Bát Chánh có tám nẻo gọi là “Đạo hạnh”. Cả hai điều phạm hạnh này Đức Phật khải thuyết một cách đầy đủ chi tiết, thanh tịnh, không có chỗ hở để thêm bớt được nữa. Cũng như về Tứ niệm xứ thì không ai có thể nói là thiếu rồi lại thêm vô thành “Ngũ niệm xứ” được. Hoặc là Bát chánh đạo thì Đức Phật đã khải thuyết rồi, cho dù một bậc trí tuệ nào có thể tìm lỗi để thêm vô hoặc bớt ra được nữa. Như vậy, cho nên gọi là Pháp học mà Đức Phật đã giảng giải một cách thanh tịnh và thiện hảo.
Tất cả Giáo pháp của Đức Phật đã giảng giải, nếu nói về phận sự thì chỉ có một, nói về Giáo pháp thì có hai là Pháp và Luật, nói về Tạng thì có ba là Luật, Kinh và Vô Tỷ Pháp, nói về bộ kinh thì có năm bộ kinh (nikāya), nói về chi thì có chín chi, nói về pháp môn thì có tám mươi bốn ngàn pháp môn.
Vấn: Chỗ nói Giáo pháp của Đức Phật chỉ có một phận sự là như thế nào?
Đáp: Nói về Phật sự chỉ có một, có nghĩa là từ khi Đức Phật chứng đắc quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác cho đến khi viên tịch Niết-bàn trong suốt bốn mươi lăm năm. Đức Phật đã luôn luôn thuyết pháp độ Chư Thiên, Nhân loại, Dạ xoa v.v… không ngừng nghỉ. Tất cả những Phật ngôn ấy gom lại chỉ có một phận sự hay gọi là “hương vị” (rasa) đó là “hương vị giải thoát” (vimutti rasa) cũng như tất cả biển cả trên thế gian này chỉ có một vị duy nhất, đó là “vị mặn”.
Vấn: Chỗ nói Phật ngôn có hai, là pháp (Dhamma) và Luật (Vinaya) là như thế nào?
Đáp: Tất cả những huấn từ của Đức Phật, khi kết hợp lại thì chỉ có hai là Pháp và Luật mà thôi. Bởi vì tất cả điều giới học trong Tạng Luật đều được gọi một danh từ là “Luật”. Ngoài ra, tất cả những huấn từ còn lại của Đức Phật đều được gọi là “Pháp”. Bởi vậy cho nên khi kiết tập lần thứ nhất, đại trưởng lão Mahā Kassapa đã có nói như sau: “Yannūna mayaṃ āvuso dhammañca vinayañca sangāgheyyāma – Này chư hiền giả, như vậy chúng ta nên đồng nhau trùng tụng và sắp xếp Pháp và Luật lại”.
Cũng như Đức Phật đã căn dặn đại trưởng lão Ānanda trong hai câu kệ sau đây: “Yo vo Ānanda, mayā dhammo ca vinayo ca desito paññatto so vo mamacca yena satthā – Này Ānanda, pháp nào mà Như Lai đã giảng giải rồi, Luật nào mà Như Lai đã chế định rồi, Pháp và Luật ấy, khi Như Lai đã tịch diệt, là thầy của các con vậy”.
Vấn: Chỗ nói Phật ngôn có ba là như thế nào?
Đáp: Chỗ nói Phật ngôn có ba là: Phật ngôn mà lúc Đức Phật vừa thành đạo quả và khải thuyết ra lần đầu tiên gọi là sơ Phật ngôn, Phật ngôn mà lúc Đức Phật khải thuyết sau đó, tất cả được gọi là trung Phật ngôn, Phật ngôn mà Đức Phật khải thuyết lần cuối cùng trước lúc viên tịch Niết-bàn gọi là hậu Phật ngôn (di huấn tối hậu).
Khi vừa mới chứng đắc đạo quả, Đức Phật hân hoan duyệt ý nên thốt lên lời chánh tri kiến như sau: “Anekajāti samsāraṃ sandhāvisaṃ anibbisaṃ gahakārakaṃ gavesanto dukkhā jāti punappunaṃ gahakāraka dittho’si puna gehaṃ na kāhasi sabbā te phāsukā bhaggā gahajūtaṃ visankhitaṃ visankhāragataṃ cittaṃ tanhānaṃ khayaṃ ajihagā – Xuyên qua nhiều kiếp sống, Như Lai thênh thang đi trong vòng luân hồi để tìm, nhưng không gặp, người thợ cất nhà này. Phiền muộn thay, đời sống triền miên tái diễn. Này hỡi người thợ làm nhà! Ngươi đã bị bắt gặp. Ngươi không còn cất nhà nữa. Tất cả rui mè của ngươi đã gãy. Cây đòn dông của ngươi cũng bị phá tan”.
Còn về Phật ngôn tối hậu sau cùng trước khi Đức Phật sắp viên tịch Niết-bàn đã nói như sau: “Amantiyāmi vo bhikkhave khayavaya dhammā saṅkhārā appamādena sumpādetha – Này chư tỳ kheo, nay ta khuyên dạy các ngươi: Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”. (Có nghĩa là: Này chư tỳ kheo, nay ta có lời căn dặn đến chư tỳ kheo rằng: Các pháp hữu vi thật không bền vững, có tánh cách tiêu hoại là thường, vậy chư tỳ kheo không nên dể duôi, ráng lo chu toàn phận sự của mỗi người cho được viên mãn).
Về phần trung Phật ngôn là Đức Phật khải thuyết tất cả Giáo pháp ở trong khoảng giữa của sơ Phật ngôn và hậu Phật ngôn.
Vấn: Chỗ nói Phật ngôn có ba tạng là như thế nào?
Đáp: Tất cả Phật ngôn được kiết tập lại chỉ có ba là: Luật Tạng (Vinaya Pitaka), Kinh Tạng (Suttanta Pitaka) và Vô Tỷ Tạng (Abhidhamma Pitaka).
Giải thích rằng: Giới bổn Biệt biệt giải thoát giới – Patimokkha là phần cụ túc giới của chư tỳ kheo và giới bổn của chư tỳ kheo ni, hai sự phân tách (vibhaṅga) của phận sự tỳ kheo và tỳ kheo ni, hai mươi hai phần (khandala), mười sáu tiểu phần (parivāra) mà chư Thánh tăng đã kiết tập lần đầu tiên được gom kết lại thành Luật tạng.
Tất cả Phật ngôn ở trong năm bộ Kinh (Nikāya), như là Trường bộ Kinh (Dīgha Nikāya) có ba mươi bốn bài kinh, Trung bộ Kinh (Majjhima Nikāya) có một trăm năm mươi hai bài kinh, Tương Ưng bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya) có bảy ngàn bảy trăm sáu mươi hai bài kinh, Tăng Chi bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya) có chín ngàn năm trăm năm mươi bảy bài kinh và Tiểu bộ Kinh (Khuddaka Nikāya) có được mười lăm tập kinh. Tất cả năm bộ Kinh này được kết hợp lại thành Kinh Tạng.
Tất cả Phật ngôn ở trong bảy bộ thuộc Vô Tỷ Pháp Tạng như là Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī), Phân Tách (Vibhaṅga), Nguyên Chất Ngữ (Dhātukāthā), Nhân Chế Định (Puggalapaññatti), Ngữ Tông (Kāthāvatthu), Song Đối (Yamaka), và Phát Thú (Patthāna).
Từ ngữ Luật (Vinaya) có ý nghĩa là Phận sự đặc biệt” hay là “Luật lệ để trau dồi sửa đổi, sai biệt riêng lẻ”.
Giải thích rằng: Luật của Đức Phật là chỉ có một. Tuy nhiên sở dĩ có sự sai biệt riêng lẻ là tùy theo đoạn của tội lỗi (Ᾱpatti) như Bất Cộng Trụ thì có bốn, Tăng Tàng thì có mười ba v.v…, mỗi đoạn của tội lỗi đều có sự sai khác với nhau và riêng biệt.
Lại nữa, Luật có điểm đặc biệt như phần “Anupaññatti” chế định kế tiếp có nhiều sự lợi ích, như làm cho điều giới học trở nên gắt gao hay là dễ dãi bớt đi, cho nên gọi là điểm đặc biệt. Nói về lề lối thì để trau dồi thân, ngữ cho trở nên thanh tịnh, tốt đẹp, trang nghiêm, không sai trật, không ti liệt, không xấu xa trong mọi hành động.
Từ ngữ “Kinh” (Nikāya) có nghĩa là “nói ra” hoặc là “mực thước” hay là “kết lại”.
Giải thích rằng: Pháp được nói ra có nhiều sự lợi ích cho mình và cho người khác mà Đức Phật đã khải thuyết ra tùy theo trình độ của mỗi nhân vật sai khác nhau. Chỗ nói rằng “mực thước” là đáng cho các bậc trí thức lấy theo đó mà làm tiêu chuẩn. Chỗ nói rằng “Kết lại” là kết lại thành xâu như xâu chuỗi hoa mà người thợ hoa khéo tay xâu kết lại một cách thiện xảo, nên được gọi là “Kinh”.
Từ ngữ “Vô Tỷ Pháp” (Abhidhamma) có ý nghĩa là “Pháp có sự tiến hóa, nhất định, đáng tôn kính cúng dường, pháp không có sự nhầm lẫn và pháp cao thượng thù thắng”.
Giải thích rằng: Chỗ được nói “Pháp có sự tiến hóa” là hành giả nào thực hành theo pháp ấy, có tâm bác ái rải ra khắp thập phương, làm cho thiền định phát sanh lên, có thể sanh về Thiên giới là cõi Sắc giới. Chỗ nói rằng “Pháp nhất định” là pháp ấy có đặc tính riêng biệt cho mỗi trạng thái như ngũ trần thì sắc trần không lẫn lộn với thinh trần v.v… Chỗ nói rằng “Pháp đáng tôn kính cúng dường” là pháp ấy là những pháp hữu lậu (sekkha), pháp vô lậu (asekkha) và pháp siêu xuất thế gian (lokuttara)đều được đáng tôn kính cúng dường. Chỗ nói rằng “Pháp không có sự nhầm lẫn” là các pháp ấy như sắc không có sự nhầm lẫn cho là thọ v.v… Chỗ nói rằng “Pháp cao thượng thù thắng” là các pháp ấy được Đức Phật khải thuyết ra như là Sắc giới pháp, Vô Tỷ pháp, Vô thượng pháp. Tất cả các pháp đã được giải thích gọi là “Vô Tỷ Pháp”.
Kết hợp lại tất cả ba phần là Luật, Kinh và Vô Tỷ Pháp được gọi là Tam Tạng hay Pháp học.
Chỗ nói rằng “Tạng” có nghĩa là “thành phần” hay “vật chứa đựng”. Vì Pháp học được chia ra nhiều lý lẽ sai biệt nhau nên gọi là “vật chứa đựng tất cả Phật ngôn”.
– Tam Tạng ấy – nói về sự thuyết trình thì có ba ý nghĩa: mệnh lệnh thuyết giảng (Ānādesanā): Tạng Luật được Đức Phật khải thuyết do uy quyền của Ngài đã chế định về sự hành vi đúng hay sai; từ chương thuyết giảng (Vohāradesanā): Tạng Kinh do Đức Phật khải thuyết diễn giải kiến thức để kêu gọi, khuyến khích và dắt dẫn chúng sanh; siêu lý thuyết giảng (Paramatthadesanā): Tạng Vô Tỷ Pháp đã được Đức Phật khải thuyết ra toàn Giáo pháp sâu xa, thậm thâm vi diệu, cao quý thù thắng…
– Tam Tạng – nếu nói về giáo lý thì cũng có ba ý nghĩa như sau: lời thuyết giảng tùy theo tội lỗi của chúng sanh (yathāparādha sāsanā) là chủ yếu nói về Tạng Luật; lời thuyết giảng tùy theo trình độ và tánh tình của chúng sanh (yathānuloma sāsanā) là chủ yếu nói về Tạng Kinh; lời thuyết giảng bậc thù thắng tùy theo chúng sanh có nhiều ngã chấp (yathādhamma sāsanā) là chủ yếu nói về Tạng Vô Tỷ Pháp.
– Tam Tạng – nếu nói về Pháp học thì có ba ý nghĩa như sau: điều học giới cao thượng (adhisila sīkkhā): pháp học đầu tiên là giới phần, chủ yếu nói về Tạng Luật; điều học tâm cao thượng (adhicitta sīkkhā): pháp học phần giữa là tâm định, chủ yếu nói về Tạng Kinh; điều học tuệ cao thượng (adhipannā sīkkhā): pháp học phần đoạn cuối là trí tuệ, chủ yếu nói về Tạng Vô Tỷ Pháp.
– Tam Tạng – nếu nói về sự dứt bỏ thì cũng được chia ra làm ba phần: sự dứt bỏ phiền não thô thiển(vitikkama pahāna) là pháp đối nghịch với giới hạnh, đây là chủ yếu nói về Tạng Luật; sự dứt bỏ phiền não ngăn cản thiền định (pariyutthāna pahāna) đây chủ yếu nói về Tạng Kinh; sự dứt bỏ phiền não ngủ ngầm trong tâm (anusaya pahāna) là pháp đối nghịch với trí tuệ, đây chủ yếu nói về Tạng Vô Tỷ Pháp.
– Trong Tam Tạng, mỗi tạng đều có bốn cách sâu xa, đó là: pháp lý thậm thâm (dhamma gambhīra): sâu xa về nguyên nhân; nghĩa lý thậm thâm (attha gambhīra): sâu xa về hậu quả lý luận; thuyết giảng thậm thâm (desanā gambhīra): sâu xa về sự thuyết giảng; giác ngộ thậm thâm (pativedha gambhīra): sâu xa về sự giác ngộ, hoặc sự lãnh hội về nhân quả, hoặc lý lẽ của Giáo pháp.
– Trong Tam Tạng có bốn thể loại ngôn ngữ, đó là: Phật ngôn (Buddha bhāsita): ngôn ngữ chính thức do từ Đức Phật khải thuyết ra; Thinh văn ngôn (Sāvaka bhāsita): ngôn ngữ do chính từ Thinh Văn đệ tử của Phật khải thuyết ra; Đạo sĩ ngôn (Isi bhāsita): ngôn ngữ do các vị Đạo sĩ chánh kiến thuộc về hàng chân ngôn khải thuyết ra; Thiên ngôn (Devatā bhāsita): ngôn ngữ do tự Chư Thiên khải thuyết ra.
– Về trạng thái của Pháp học, có ba thể loại, đó là:
Alaggaddūpamā pariyatti: Pháp học ví như người bắt rắn độc, là người có học theo Pháp học với tác ý xấu xa, bất thiện hảo, mong muốn được lợi lộc trong tứ vật dụng cúng dường, hoặc để tranh đua cầu danh, để có mặt mày tên tuổi với người, hoặc cố ý để trả lời những câu hỏi của hàng thính chúng cho thật hay, chớ không phải học rồi để suy xét theo trí tuệ để cho thấy rõ ân đức cao thượng của các pháp cần phải đạt đến. Vì vậy, mà phải chịu sự đau khổ lâu dài bởi do tác ý của sự học bất thiện hảo, được ví như người đi bắt rắn độc. Thấy rắn liền nắm bắt không nhằm chỗ nên bị rắn mổ cho phải bị bán sống bán chết, hoặc có khi phải bị mạng vong. Bởi do bắt rắn không đúng cách như thế nào thì người học Tam Tạng với tác ý bất thiện hảo cũng sẽ bị khổ đau cũng dường như thế ấy.
Nissaraṇattha Pariyatti: Pháp học mà người thọ trì cốt để thực hành theo pháp cao thượng, nhứt là thọ trì giới cho thật tinh nghiêm, để được thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.
Bhaṇḍāgariya Pariyatti: Pháp học mà các bậc Thánh nhân đã chứng đắc đạo quả rồi, tuy nhiên chỉ để bảo tồn Giáo pháp hay học hỏi thêm vì phận sự mà thôi.
– Cách thực hành, hành theo Tam Tạng có lợi ích sai biệt như sau: nếu vị tỳ kheo thực hành thiện hảo đúng theo Tạng Luật thì sẽ được chứng đắc “tam thắng trí” do nhờ vào giới hạnh; nếu vị tỳ kheo thực hành thiện hảo đúng theo Tạng Kinh thì sẽ được chứng đắc “lục thắng trí” do nhờ vào định hạnh; nếu vị tỳ kheo thực hành thiện hảo đúng theo Tạng Vô Tỷ Pháp thì sẽ được chứng đắc “tứ tuệ phân tích” do nhờ vào tuệ hạnh.
Nếu thực hành sái quấy với Tạng Luật thì sẽ trở nên người “phá giới”. Nếu thực hành sái quấy với Tạng Kinh thì sẽ trở nên người “tà kiến”. Nếu thực hành sái quấy với Tạng Vô Tỷ Pháp thì tâm trí của người trở nên điên cuồng rối loạn.
Vấn: Chỗ nói Phật ngôn chia ra làm năm bộ Kinh là như thế nào?
Đáp: Tất cả Phật ngôn ở trong năm bộ Kinh (Nikāya), như là Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya) có ba mươi bốn bài kinh, Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya) có một trăm năm mươi hai bài kinh, Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya) có bảy ngàn bảy trăm sáu mươi hai bài kinh, Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya) có chín ngàn năm trăm năm mươi bảy bài kinh và Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya) có mười lăm tập kinh. Tất cả năm bộ Kinh này được kết hợp lại thành Kinh Tạng.
Vấn: Chỗ nói Phật ngôn chia ra làm chín chi là như thế nào?
Đáp: Chín chi ấy là: Sutta (Kinh Tập), Geyya (Thi Ca), Veyyākaraṇa (Giải Thích), Gāthā (Câu Kệ), Udāna (Tự Thuyết Kinh), Itivuttaka (Như Thị Nghĩa Kinh), Jāṭaka (Bổn Sanh), Abbhūta (Phi Thường), Vedalla (Giáo Điều).
Giải thích rằng: Các bài kinh trong Suttanipāta (Kinh Tập) như là Maṅgala sutta (Kinh Kiết Tường), Ratana sutta (Kinh Tam bảo), v.v… và Ubhato vibhaṅga, Khandhaka, Parivāra v.v…, và các Phật ngôn khác trong Tạng Kinh đều gọi là Sutta (Kinh Tập) hết cả thảy. Geyya (Thi ca) là tất cả các đoạn kinh thuộc về “bài kệ” và các câu kệ trong phần Saṃyutta Nikāya (Tương Ưng bộ Kinh) đều gọi là Geyya (Thi ca) hết cả thảy. Veyyākaraṇa (Giải thích): là tất cả bài kinh trong Tạng Vô Tỷ Pháp hoặc trong các bộ Kinh không có lẫn lộn kệ ngôn và Phật ngôn, không có liên quan tới tám chi còn lại, được gọi là Veyyākaraṇa (Giải thích) hết cả thảy. Gāthā (Câu kệ): là những câu kệ của các vị Thánh Tỳ kheo Tăng (Trưởng lão Tăng kệ) và Thánh Tỳ kheo Ni (Trưởng lão Ni kệ) hoàn toàn không dính líu tới các bài kinh kia. Udāna (Tự thuyết kinh): là tất cả tám mươi hai đoạn kinh luôn cả kệ ngôn do sự thỏa thích của bậc trí tuệ mà khải ngôn lên. Itivuttaka (Như thị nghĩa kinh): là mười đoạn kinh do các hàng Thinh Văn đệ tử của Đức Phật nói lên dựa vào Phật ngôn của Đức Phật đã thuyết. Jāṭaka (Bổn sanh): Nói về sự tích trong năm trăm tiền kiếp của tiền thân Đức Phật, khi hãy còn là Bồ tát. Abbhūta (Phi thường): Nói về những pháp lạ chưa từng có, chưa từng nghe, bây giờ lại phát sanh lên, như trong thân người của Đại đức Ananda có bốn pháp lạ và đặc biệt v.v.. Vedalla (Giáo điều): là các đoạn kinh khi vấn hỏi Đức Phật xong rồi, liền phát tâm thuần tịnh, hân hoan duyệt ý và thỏa lòng toại ý.
Vấn: Phật ngôn có tất cả tám mươi bốn ngàn pháp môn, làm thế nào chia ra được mỗi pháp môn?
Đáp: Phật ngôn có tám mươi bốn ngàn pháp môn được chia ra như sau: bài kinh nào có mỗi liên kết (anusandhi) là mỗi sự liên hệ hay kết luận là mỗi pháp môn; trong mỗi bài kệ, với mỗi câu hỏi và mỗi câu trả lời đều là mỗi pháp môn; ở trong Tạng Vô Tỷ Pháp, mỗi phần “Mātikā – Mẫu Đề Tam” hoặc “Dukā – Mẫu Đề Nhị” hoặc “Catukā – Mẫu Đề Tứ” hay trong phần tâm với mỗi phần đều là pháp môn; về trong Tạng Luật, mỗi câu chuyện, mỗi một Mātikā (Mẫu Đề), mỗi điều giới học, mỗi cách phạm tội, mỗi các không phạm tội, mỗi sự phạm tội hay không phạm tội, trong từng mỗi Mātikā đều là mỗi pháp môn. Và như thế là cách chia và tính từng pháp môn là như thế.
Vấn: Còn về Thánh đế (Lokuttara Dhamma) mà Đức Phật đã giảng giải một cách đúng đắn thiện hảo là như thế nào?
Đáp: Gọi là “Thánh Pháp” mà Đức Phật giảng giải một cách thiện hảo, đó là giảng giải Pháp hành chân chánh đáng đưa đến Niết-bàn. Bởi vì, Niết-bàn mà con người tầm cầu để chứng đắc, phải thực hành thật thuần tịnh để xa lìa ái tình, sân hận, si mê, là phải thực hành theo tam học giới, định, tuệ. Vì giới để ngăn ngừa và dứt bỏ phiền não thô thiển của tham, sân, si. Với định thì dứt bỏ phiền não trung bình của tham, sân, si. Và sau cùng, là tuệ để diệt tất cả tham, sân, si loại phiền não vi tế. Đây là con đường chân chánh (Chánh Đạo), trung thực, kết tụ lại chảy vào trong một chỗ là Niết-bàn. Thí dụ như tất cả nước trong con sông Hằng đều chảy chung ra một con đường với nước con sông Yamunā, cùng với tất cả màu sắc, mùi vị v.v… cũng đều như nhau. Cũng như vậy, Thánh pháp mà Đức Phật đã khéo giảng thuyết rất chân chánh, trung thực, và thiện hảo đều như nhau.
#phatgiaonguyenthuy
#phatgiao
#thiensu
#tinhtam
#theravada
Theo nguồn: https://theravada.vn/book/an-duc-phap-bao-tang-bao-ty-khuu-buu-chon/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét