Phần 21
- Lời Thỉnh Cầu Của Đề-Bà-Đạt-Đa
- Bạn Lành Hay Thầy Tốt
- Quên Làm Điều Thiện
- Pamāda và Tham Dục
- Sự Thực Hành Pháp Không Phóng Dật
- Hiểu Đúng Ý Nghĩa Của Appamādena Sampādetha
- Lời Dạy Cuối Cùng
Lời Thỉnh Cầu Của Đề-Bà-Đạt-Đa
Đề-bà-đạt-đa đã đặt kế hoạch chia rẽ Tăng sau khi bàn bạc với ba người đệ tử của mình. Ông đi đến Đức Phật với ba vị sư này và thỉnh cầu Đức Phật ban hành năm điều luật cho các vị Tỳ-kheo. Năm điều luật này là (1) Chư Tăng phải sống trong rừng suốt đời. Nếu ai sống trong làng mạc họ sẽ bị tuyên bố là có tội. (2) Chư Tăng chỉ được ăn thức ăn nhận được do khất thực. Nếu ai chấp nhận thức ăn do người cư sĩ thỉnh mời họ sẽ bị tuyên bố là có tội. (3) Chư Tăng phải sống dưới một gốc cây. Nếu ai làm mái che họ sẽ bị tuyên bố là có tội. (4) Chư Tăng chỉ được mặc y bằng vải bỏ đi. Nếu ai nhận y do người cư sĩ cúng dường họ sẽ bị tuyên bố là có tội. (5) Chư Tăng phải là những người ăn chay. Những ai ăn cá hoặc thịt sẽ bị tuyên bố là có tội.
Tất nhiên sẽ không thích hợp để các vị Tỳ-kheo phải tuân theo những điều luật này. Nhưng nếu những điều luật này được quy định bởi Đức Phật, ắt sẽ rất khó để các vị tuân thủ hết các điều luật ấy. Trong suốt những năm đầu hoằng pháp của Đức Phật các vị Tỳ-kheo chỉ sống trong những trú xứ ở rừng. Các vị chỉ ăn những gì nhận được do khất thực và trải qua thời gian còn lại dưới gốc cây. Nhưng thấy rằng sẽ là khó khăn cho một số vị phải sống khắc khổ như vậy trong tương lai, Đức Phật đã cho phép chư Tăng thực hành những pháp khổ hạnh này một cách tự nguyện. Các vị sư được phép sống dưới gốc cây trừ bốn tháng mùa mưa. Các vị sư được phép ăn thịt cá miễn rằng họ không thấy con vật bị giết hay nghe hoặc có lý do để nghi ngờ rằng con vật bị giết rõ ràng là để cho bữa ăn của họ. Như vậy Đức Phật đã cho phép các vị sư chọn một số pháp khổ hạnh nếu họ thấy thích hợp và bác bỏ những đề nghị của Đề-bà-đạt-đa.
Lợi dụng sự không đồng ý của Đức Phật, Đề-bà-đạt-đa đã yêu cầu cho hội họp Tăng Chúng để lấy ý kiến của họ về những đề xuất mà như ông nói, sẽ dẫn đến sự thiểu dục, bằng cách bỏ phiếu. Các vị sư trẻ ngu dốt thuộc xứ Vajjī (Bạt Kỳ) đã ủng hộ ông. Đề-bà-đạt-đa đem năm trăm vị sư này đến Gayāsīya. Thuận theo ý muốn của Đức Thế Tôn, Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đã đi đến đó để khai sáng cho các vị sư lầm đường lạc lối.
Khi hai vị đi đến, Đề-bà-đạt-đa đang thuyết pháp cho các vị sư trẻ. Nhìn thấy hai vị Trưởng-lão, Đề-bà-đạt-đa nói với các đệ tử của mình, “Nhìn kìa! Hai vị đại đệ tử của Sa-môn Cồ-đàm thích giáo lý của ta đến mức đã thân hành đến gặp ta đấy.” Nghe thế Kokālika, một trong những người theo ông cảnh báo, “Coi chừng, hai vị sư này có những ác dục. Họ đi theo tiếng gọi của ác dục và vì thế chớ có thân mật với họ.” Ở đây Kokālika đang phóng chiếu những ác dục mà y có khi đi theo Đề-bà-đạt-đa lên hai vị Trưởng-lão. Điều này chẳng khác gì một người điên gọi những người khác là kẻ điên vậy.
Bất chấp lời cảnh báo này, Đề-bà-đạt-đa đã chào đón hai vị đại đệ tử của Đức Phật bởi vì ông nghĩ ông đã thắng phục được họ bằng giáo lý của ông. Ông mời họ ngồi nhưng hai vị tự tìm chỗ ngồi ở nơi khác. Ông tiếp tục thuyết pháp cho đến nửa đêm và rồi ông nhờ Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết thế vì các vị sư trẻ không cảm thấy buồn ngủ và bản thân ông thì muốn nằm nghỉ một lát. Ông nằm xuống bên vai phải gối đầu trên tấm y (Tăng-già-lê). Ở đây chúng ta thấy ông đang bắt chước những gì Đức Phật thường nói và làm vào những dịp thuyết pháp tương tự. Đức Phật không rơi vào giấc ngủ khi ngài nằm nghỉ. Ngài thường bầy tỏ lời tán dương bài pháp của người đệ tử khi thời pháp chấm dứt. Tuy nhiên Đề-bà-đạt-đa không chánh niệm khi nằm xuống, và ông rơi vào giấc ngủ ngay lúc ấy.
Trưởng-lão Xá-lợi-phất đã vạch rõ những ý nghĩ đang diễn ra trong tâm của các vị sư và nói với họ nên thực hành sự tự kiềm chế. Trưởng-lão Mục-kiền-liên thực hiện các phép thần thông và sau đó dạy Pháp cho họ. Có thể nói buổi thuyết pháp đã rất thích thú vì trong khi nghe pháp năm trăm vị sư đều đắc nhập lưu thánh quả. Cùng với hai vị đại đệ tử tất cả họ quay trở về thành Vương Xá (Rājagaha) nơi Đức Phật đang cư trú.
Thấy thế Kokālika rất giận dữ, ông đã đánh thức Đề-bà-đạt-đa bằng cách đá vào ngực vị này. Ông hét vào tai Đề-bà-đạt-đa “Thấy chưa, tất cả đệ tử của ông đã đi hết rồi đó. Tôi đã chẳng nói với ông là Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên có ác tâm, rằng ông không nên tin họ đó sao?”
Ở đây những lời nói của Kokālika cần phải suy xét. Là người theo Đề-bà-đạt-đa có ác tâm, ông quy kết những động cơ ác ấy cho hai vị thánh đệ tử Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Điều này cho thấy rằng ông đã bị nhễm ác tâm của thầy mình – Đề-bà-đạt-đa, ông nói lời ác đối với các bậc thánh là vì ông nương từa thầy ác vậy. Vì thế chúng ta nên tránh những bạn ác hoặc thầy ác, những người hay ghen tị và không có đức tin, giới hạnh, sự hiểu biết và trí tuệ.
Bạn Lành Hay Thầy Tốt
Trái lại, một người bạn lành hay thầy tốt sẽ có những đức ngược lại. Tức là họ có đức tin, giới hạnh vẹn toàn, có sự hiểu biết với một tấm lòng quảng đại và trí tuệ. Vị thầy và bạn tốt nhất trên đời này là Đức Phật. Nương tựa Đức Phật là nương tựa bậc thầy tốt nhất. Mặc dù Đức Phật đã nhập Niết Bàn song những ai nghe theo lời dạy của ngài, kính trọng những kỷ niệm của ngài là đã có một người thầy tốt nhất để nương tựa. Thời Đức Phật, Trưởng-lão Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên được xếp vào những bậc thầy tốt nhất thứ hai, Trưởng-lão Ma-ha-ca-diếp, A-nậu-lâu-đà,… như những vị thầy tốt nhất thứ ba. Về sau các bậc thánh A-la-hán, A-na-hàm, Tư-đà-hàm, và Tu-đà-hoàn là những bậc thầy tốt nhất theo thứ tự đó. Tất nhiên những người bình thường có đức tin và giới hạnh sẽ được xếp sau các bậc thánh như những vị thầy tốt nhất.
Ngày nay thật khó để nhận ra một bậc A-la-hán hay một Bậc Thánh đã đắc các thánh đạo khác. Chỉ những bậc Thánh đích thực và thông thạo mới có thể đánh giá được sự chứng đắc tâm linh của một người. Nếu là một người học đạo bình thường, bạn muốn tìm ra một người bạn tốt hay thầy tốt, bạn phải áp dụng tiêu chuẩn của bộ Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī) mà chúng tôi đã nói ở trên, đó là., đức tin, giới, sự hiểu biết (kiến thức), một tấm lòng quảng đại và trí tuệ.
Bạn tốt hay thầy tốt phải có đức tin. Người ấy phải hết lòng sùng mộ và tôn kính Đức Phật. Một số người nói rằng một Bậc A-la-hán thì đâu cần những sự sùng bái như vậy. Nhưng theo chú giải, một Bậc A-la-hán luôn hết lòng sùng kính ngôi Đại Điện Thờ Xá-Lợi (Mahācetiya). Bạn tốt hay thầy tốt cũng phải có đức tin nơi Giáo Pháp (Dhamma) và Chư Tăng (Sangha). Người ấy tin nơi nghiệp và quả của nghiệp, tránh điều ác và làm các điều thiện. Người ấy khích lệ người khác có đức hạnh tốt giống như mình. Người ấy phải có kiến thức. Người ấy phải được khéo trang bị với kiến thức thế gian nếu người ấy là một vị thầy tốt trong lãnh vực đời sống thế tục. Những vị Tỳ-kheo không hành thiền thì phải có đủ kiến thức để dạy học trò của mình những việc như đọc, viết kinh điển Pāḷi không phạm luật.
Một số vị Tỳ-kheo thông thạo kinh điển Pāḷi, nhưng lại viết rất kém. Thậm chí cách đánh vần và cách viết các từ Pāḷi của họ rất dở. Tất nhiên kiến thức mà vị Tỳ-kheo chủ yếu phải có là kiến thức về Pháp. Một vị thiền sư phải có hai loại kiến thức, đó là, kiến thức về kinh điển và kiến thức dựa trên thực hành và trải nghiệm. Nếu vị thầy được khéo trang bị với hai loại kiến thức như vậy, người đệ tử dù kiến thức không đầy đủ vẫn có thể đắc tuệ giác thực thụ bằng cách hành thiền theo sự chỉ dẫn của người thầy.
Thật dễ biết những dấu hiệu của một tấm lòng quảng đại. Một vị thầy có lòng quảng đại sẽ cho hết những gì mà mình không cần đến hàng đệ tử và những người theo mình. Trí tuệ (paññā) là cái mà một vị thầy tốt có được bằng cách học, suy xét và hành thiền. Người thầy phải có minh sát trí, như trí về sự sanh diệt của mọi hiện tượng (udayabbayañāṇa-sanh diệt trí).
Một bài thuyết pháp của người thầy sẽ cho thấy rõ ông có minh sát trí hay không. Tuy nhiên rất khó để một người bình thường nhận ra được trí này. Một người đọc sách nhiều có thể biết điều được đó nhưng sẽ không dễ nhận ra tí nào đối với một người không có kinh nghiệm. Người ta có thể hiểu lầm những gì người thầy nói trên căn bản kinh nghiệm của ông hoặc họ có thể lầm lẫn kiến thức sách vở thuần tuý cho là kinh nghiệm thực. Còn khó hiểu hơn nữa là các loại trí kết hợp với thánh đạo, thánh quả, và trí phản khán (paccavekkhanañāṇa). Vì thế chúng ta nên xem một người là thầy tốt nếu họ có đức tin, kiến thức,… và mô tả được bản chất của minh sát trí trên căn bản kinh nghiệm tu tập của mình và hợp với tinh thần kinh điển.
Thanh Tịnh Đạo mô tả một vị thiền sư tốt như một người nhã nhặn. Người ấy tự làm cho người khác yêu mến bằng giới hạnh vẹn toàn, thiện chí và lòng từ thể hiện trong lời nói và hành động của mình.
Người ấy phải xứng đáng với lòng kính trọng. Ở đây, nếu vị ấy có giới, định và tuệ vị ấy sẽ có được thuộc tính này.
Người ấy phải xứng đáng với tâm từ của người khác. Thật dễ rải tâm từ (mettā) đến một người có nhân cách tốt đẹp, nhất là khi được truyền cảm hứng bởi tâm từ trong lời nói và hành động của người ấy.
Người ấy phải biết cách làm thế nào để dạy dỗ và rèn luyện những người khác. Nếu một người đệ tử có khiếm khuyết và lỗi lầm, người thầy không được nhắm mắt làm ngơ mà phải biết khiển trách họ. Đây là một phẩm chất quan trọng của một người thầy tốt. Thái độ thờ ơ đối với những vấn đề đòi hỏi phải có sự khiển trách sẽ làm tổn hại đến quyền lợi của người đệ tử.
Người ấy có thể phải đương đầu với những sự chỉ trích. Dù cho người chỉ trích mình ở lứa tuổi nào, nếu sự trích ấy là chính đáng, người ấy phải đón nhận nó và hành động hợp theo đó, như trong trường hợp của ngài Xá-lợi-phất đã biết chấp nhận lời khuyên của một chú sa-di vậy.
Có lần ngài Xá-lợi-phất bận một công việc gì đó đến nỗi y ngoài của ngài bị tuột xuống. Tất nhiên cách mặc y như vậy là không hợp với giới luật nhưng vì lẽ ngài không có ý muốn vi phạm, nên ngài không phạm vào một tội nào cả. Nhìn thấy y của ngài tuột, một chú sa-di trẻ liền lưu ý ngài. Trưởng lão Xá-lợi-phất đón nhận lời nhắc nhở của chú với thái độ biết ơn và điều chỉnh lại y của mình, thậm chí sau khi sửa xong ngài còn hỏi, “Thế này đã được chưa, bạch ngài?”
Một vị thầy tốt còn phải có khả năng thuyết về những đề tài sâu sắc như Uẩn (khandha), Xứ (āyatana), Giới (dhātu), Đế (sacca), Duyên Sanh (paṭiccasamuppāda), Minh Sát (Vipassanā), v.v…Nếu vị thầy không có khả năng giảng giải những đề tài này, người đệ tử sẽ không có cơ hội để hành thiền một cách hiệu quả bất chấp mong muốn được như vậy của họ.
Một người thầy tốt không bao giờ khuyến khích đệ tử làm những điều không phải lẽ. Có một số vị thầy sai đệ tử làm những điều bất thiện vì những mục đích ích kỷ của họ. Nếu người đệ tử tuân theo sự chỉ dạy của những người thầy như vậy, họ thường gặp tai hoạ. Nếu y từ chối không hợp lẽ, ít nhất y cũng bị chỉ trích. Nếu y phạm tội, y sẽ bị trừng phạt. Nếu y làm những nghiệp bất thiện, y sẽ phải đoạ vào một trong bốn ác đạo sau khi chết. Vì vậy người thầy không nên khuyến khích những đệ tử của mình làm điều không phải lẽ.
Những phẩm chất thiết yếu của một vị thầy tốt này được đề cập trong Thanh Tịnh Đạo và ẩn tàng trong năm đức, đó là, tín, giới, sự hiểu biết, một tấm lòng quảng đại, và trí tuệ mà Bộ Pháp Tụ của Tạng Diệu Pháp đề nghị. Như vậy sự nhã nhặn và đức đáng được sự yêu mến (tâm từ) của người khác hàm ý có giới (sīla). Tư cách đáng kính là thuộc tính của những người có giới đức, kiến thức và trí tuệ và đó cũng là khả năng có thể rèn luyện người khác và khả năng biết chấp nhận lời khuyên. Khả năng để thuyết giảng về những đề tài sâu sắc được dựa trên kiến thức và trí tuệ. Vì thế, có thể nói, về cơ bản những đức của một người thầy tốt theo Thanh Tịnh Đạo và Bộ Pháp Tụ là như nhau.
Quên Làm Điều Thiện (Pamāda, 放逸, Phóng Dật)
Chúng ta thường hay nói về sự hay quên (pamāda). Khuynh hướng hay quên của chúng ta không chỉ có trong cuộc sống đời thường mà cả đến những vấn đề phát triển tinh thần nữa. Chúng ta để một vật ở một chỗ nào đó và mất nó vì chúng ta không cầm theo khi rời khỏi chỗ ấy. Nhất là khi chúng ta đi xe, đi tàu lửa hay máy bay chúng ta thường hay bị mất món này món kia vì chúng ta quên giữ nó bên mình. Về phương diện tài chánh hay một số phương diện khác cũng vậy, chúng ta đau khổ khi chúng ta quên làm một việc gì đó. Tính hay quên như vậy trong đời sống hàng ngày rất có hại. Còn quên làm phước, bố thí, giữ giới,… là không lưu tâm đến những vấn đề trong đời sống tâm linh. Nó được gọi là phóng dật (pamāda) và Khuddaka-Vibhaṅga đã giải thích nó như sau: -
"Thế nào là bản chất của pamāda? Nó có nghĩa là sự không tự chủ đối với những hành động, lời nói, và ý nghĩ bất thiện cũng như ngũ dục."
Thiếu khả năng kiềm chế những hành động xấu cũng là một loại phóng dật (pamāda). Hành động xấu ở đây muốn nói đến việc sát sanh, trộm cắp và tà dâm. Vì thế khi bạn nghĩ đến việc sát sanh hay khi bạn đang sát sanh là bạn đang buông thả cho ước muốn sát sanh của mình. Vào lúc ấy bạn quên rằng bạn phải tránh sát sanh, trộm cắp, tà dâm….
Cũng vậy, tâm tự do đối với bốn loại lời nói ác có nghĩa là đã quên. Chúng ta quên sự kiện rằng chúng ta phải tránh nói dối, tránh nói lời chia rẽ, tránh nói lời thô ác, và tránh nói lời phù phiếm. Vì thế đó cũng là một loại phóng dật (pamāda). Không kiểm soát những ý nghĩ ác, như ý nghĩ muốn lấy tài sản của người khác, ý nghĩ sát sanh, hay hoài nghi về quy luật nhân quả cũng vậy. Nó có nghĩa rằng chúng ta đã quên một sự thực, rằng sẽ là điều tốt đẹp nếu chúng ta không có ý tham đối với tài sản của người khác, nếu chúng ta trau dồi tâm từ ái và củng cố niềm tin vào nghiệp và quả của nghiệp.
Có thể xem việc quên những điều này là tệ hại nhất trong tất cả các loại pamāda vì một người nhiễm những thói hay quên ấy sẽ khuynh hướng về điều ác và hoàn toàn mù quáng trước những giá trị đạo đức và tinh thần.
Pamāda Và Tham Dục
Có một loại phóng dật khác, đó là sự phóng túng đối với ngũ dục (năm dục trần). Dục trần là những đối tượng của tham dục. Chúng tạo thành căn bản của sự hấp dẫn giữa người nam và người nữ. Những đối tượng của nam dục (tham muốn của người nam) phần lớn được tìm thấy nơi người nữ và ngược lại. Những đối tượng này là sắc, thinh, hương, vị và xúc. Trong đó, vị cũng có nghĩa là vị của món ăn đã nấu nướng cũng như của quần áo, giường chiếu,…. Và các dục trần cũng được đồng nhất với những tài sản vật chất như vàng, bạc, nhà cửa, xe cộ, áo quần, … , mà một người cần phải có để hoàn thành những tham dục của mình.
Những ý nghĩ không kiềm chế về các dục trần, tham muốn thả ga đối với chúng và sự hưởng thụ vô độ các dục trần ấy có nghĩa là phóng dật (pamāda). Nó cũng giống như không kiểm soát đàn bò là đã thả lỏng cho chúng muốn làm gì thì làm trên đồng cỏ vậy. Nếu như bạn buông lỏng cho những tham muốn nhục dục thay vì kiềm chế chúng bằng sự tu tập tâm (bhāvanā) chắc chắn bạn sẽ quên làm những điều thiện. Sự ám ảnh với những tham muốn nhục dục như vậy có thể được xem như cấp độ phóng dật (pamāda) trung bình, nghĩa là nó không nghiêm trọng như loại phóng dật đưa đến những việc làm có hại.
Người không tu tập tâm luôn luôn bị ô nhiễm với cấp độ trung bình của phóng dật này. Ngay từ sáng sớm thức dậy họ đã ý nghĩ về các dục trần và những dục tầm này ám ảnh họ suốt cả ngày. Họ không bao giờ cảm thấy chán đối với các dục trần. Họ thích thú trong những ý nghĩ ấy và chỉ dừng lại khi rơi vào giấc ngủ. Họ có thể nghĩ về các dục trần cả ngày, cả đêm, cả năm, hay có thể nói, nó là mối bận tâm trong suốt cuộc đời của họ. Điều này khiến cho họ quên đi các pháp (dhammas) ở bên trong. Vì thế buông lỏng cho các dục vọng không tự kiềm chế là phóng dật (pamāda) hay quên các việc thiện.
Phóng dật là bất tỉnh (tình trạng không còn ý thức hay vô thức) nhưng nó không phải là sự bất tỉnh do rơi từ một độ cao, chết đuối hay đau đớn với một căn bệnh. Người ta hoàn toàn bất tỉnh (vô thức) khi họ đi đây đi đó, khi đang ăn hay khi đang chìm đắm trong các dục lạc. Buông thả cho những ác dục dưới hình thức làm điều ác, nói lời ác hoặc ý nghĩ ác là phóng dật ở mức tồi tệ nhất của nó. Ít nghiêm trọng hơn là sự ám ảnh với các dục trần. Và còn có một loại phóng dật (pamāda) khác vi tế và nhẹ nhàng hơn.
Quên Làm Điều Thiện
Quên tu tập hay trau dồi các thiện pháp một cách thành thực, liên tục và không ngừng nghỉ cũng là phóng dật.
Các thiện pháp ở đây nói gọn là bố thí, giữ giới, và tu tâm (bhāvanā). Bạn phải hiến mình cho công việc này một cách chân thành và thích đáng. Phải biết bố thí khi có dịp với hết khả năng của mình. Ngũ giới phải được thọ trì suốt đời và bất cứ khi nào có thể được hãy giữ thêm bát giới và các giới khác. Tâm phải được tu tập cho đến mức có thể. Những công việc này phải được làm một cách nghiêm túc và đều đặn. Thực hành nửa vời có nghĩa là thiếu sự chân thật và quên nhiều điều.
Các thiện pháp cần thiết cho sự phát triển tâm là tứ niệm xứ (satipaṭṭhāna), tứ chánh cần (sammappadhāna), tứ như ý túc (iddhipāda), ngũ căn (indriya), ngũ lực (bala), thất giác chi (bojjhaṅga) và bát thánh đạo (magga). Người hành thiền cần phải phát triển những thiện pháp này một cách thành thực và nghiêm túc.
Quan sát các oai nghi của thân như đi, đứng, ngồi, nằm,…. khi nó xảy ra là quán thân. Quan sát sự gò bó, nóng bức,… là quán các cảm thọ; quan sát những ý nghĩ và sự tưởng tượng xuất hiện trong tâm là quán các trạng thái tâm; trong khi quan sát những hoạt động nghe, thấy,… , là quán pháp. Chú tâm tỉ mỉ vào mọi thứ đang sanh khởi và biết rõ nó là sự áp dung cẩn thận của chánh niệm. Bốn niệm xứ đưa đến tứ chánh cần và sự áp dụng của các chi pháp giác ngộ khác. Do đó, quan sát sự phồng và xẹp của bụng và v.v… một cách thấu đáo là đã trau dồi các thiện pháp một cách thấu đáo. Bất cứ một hành vi quên nào sẽ là thiếu sự thấu đáo, cùng một nghĩa với phóng dật (pamāda).
Hơn nữa, nếu bạn quan sát thất thường thay vì làm điều đó một cách đều đặn, tức là thỉnh thoảng bạn sẽ bị quên, tất cả những trường hợp quên như vậy là phóng dật (pamāda). Nếu bạn chỉ quan sát được một hay hai tiếng thì có nghĩa là bạn đã phóng dật (pamāda) những giờ còn lại trong ngày. Trong trường hợp đó định của bạn đã bị ngăn lại và sẽ khó để phát triển được tuệ minh sát một cách hoàn hảo.
Lại nữa, nếu bạn buông lỏng tinh tấn hay nếu sự nhiệt tâm của bạn suy giảm, bạn có khuynh hướng trở nên phóng dật hay bị quên. Nếu trong tiến trình hành thiền bạn đầu hàng do không thấy mình tiến bộ hay do yếu sức khoẻ hay vì bất kỳ một lý do nào khác, bạn đã ngưng chánh niệm và để cho phóng dật chi phối. Loại phóng dật này rất rõ ràng trong trường hợp của một số người. Có những người không bao giờ nghĩ đến việc hành thiền. Một số thậm chí còn ngăn cản người khác hành thiền. Những người như vậy đã đắm chìm trong phóng dật suốt cả cuộc đời họ. Nói người khác từ bỏ hành thiền được xem là phóng dật (pamāda) ở mức tồi tệ nhất của nó. Một số vị sư không hành thiền mặc dù họ xuất gia với mục đích là hành thiền (để chứng ngộ chân lý). Tuy vậy thay vì bản thân mình phải nỗ lực hành thiền, họ chẳng những không hành mà lại còn ngăn cản những người khác hành thiền nữa.
Tóm lại, sẽ là phóng dật (pamāda) nếu một người không trau dồi các thiện pháp một cách nghiêm túc, không ngừng nghỉ và toàn tâm toàn ý.
Đối nghịch của quên là nhớ, là chánh niệm, là không phóng dật hay thận trọng (appamāda). Tránh tà nghiệp, tà ngữ và sống một cuộc đời hiền thiện là không phóng dật (appamāda); hay không cho những tà tư duy một lối thoát nhờ thực hành thiền định và thiền minh sát; hay chuyển hướng tâm ra khỏi các dục trần bằng sự tu tập tâm (bhāvanā); hay bố thí hoặc nghĩ đến việc bố thí hay làm những điều thiện khác. Đặc biệt, không phóng dật tốt nhất là quan sát và hay biết mọi sự phát sanh từ sáu giác quan.
Không phóng dật được các thiền sinh tại trung tâm thiền này áp dụng một cách triệt để trong cuộc sống hàng ngày. Việc giữ giới giúp họ thoát khỏi những hành động và lời nói bất thiện. Chánh niệm liên tục loại trừ những ý nghĩ bất thiện và giữ cho tâm tránh xa những dục trần. Nếu thỉnh thoảng tâm có phóng đi, nó sẽ được ghi nhận và ngăn chặn kịp thời. Vì lẽ người hành thiền luôn luôn quan sát những hình ảnh xuất hiện trong tâm, nên không thể có những ý nghĩ tham dục, và sự hồi tưởng (đến các dục trần). Điều này có nghĩa rằng chánh niệm đã và đang được phát triển nhờ sự thực hành chân thành, liên tục, đều đặn và không sút giảm. Sự trau dồi appamāda hay không phóng dật của họ như vậy rất tốt và thực sự làm cho chúng tôi phấn khởi.
Sự Thực Hành Pháp Không Phóng Dật
"Hãy cố gắng hoàn thành phận sự giải thoát của các con bằng pháp không phóng dật (hay chánh niệm)." Hàng ngày Đức Phật thường khuyên nhủ các đệ tử của ngài như vậy. Đó cũng là lời khuyên cuối cùng của Đức Phật trước khi ngài nhập Niết Bàn. Cốt lõi của lời khuyên này là người đệ tử hãy nỗ lực tinh tấn để hoàn thành mục đích chứng đắc đạo quả A-la-hán, mục tiêu tối hậu của đời phạm hạnh, sự chứng đắc vốn đưa vị A-la-hán đến chỗ suy xét để biết, "Karaṇīyaṁ kataṁ: những gì cần làm đã được làm xong." Thật không dễ để đắc A-la-hán thánh quả. Người hành thiền cần phải có sự giúp đỡ hay phương tiện để hoàn thành mục đích ấy cũng như người một người cần phải có những dụng cụ hay công cụ để thực hiện một công việc nào đó vậy. Vì thế để giúp những đệ tử của mình thành tựu mục đích chứng đắc A-la-hán thánh quả, Đức Phật đã chỉ ra pháp không phóng dật như một công cụ tốt nhất cho mục đích ấy. Nhờ không phóng dật người đệ tử hiến mình cho việc thực hành giới, định, và tuệ cho đến khi chứng đắc thánh quả A-la-hán.
Hiểu Đúng Ý Nghĩa Của 'Appamādena Sampādetha'
Ở trên, chúng tôi đã nói đến tính chất công cụ của pháp không phóng dật (appamādena) trong mối liên quan với chủ thể bởi vì cách hiểu của hầu hết mọi người về câu nói cuối cùng của Đức Phật không hợp với sự giải thích đưa ra trong chú giải. Mọi người tin rằng lời khuyên cuối cùng của Đức Phật là: "Hãy giữ chánh niệm hoàn toàn." Sự phiên dịch này khá hợp lý nhưng nó không chú trọng đến những gì mà người đệ tử phải hoàn thành. Trái lại chú giải đã thêm chi tiết vào câu nói ấy như vầy: "Appamādena sampādethāti sati-avippavāsena sabbakiccāni sampādeyyātha." Câu Pāḷi trên bao gồm bổ ngữ "sabba kiccāni" vốn có nghĩa là "tất cả mục đích, tất cả phận sự hay tất cả sự việc". Vì vậy, những động từ sampādetha và sampādeyyātha chắc chắn phải là các tha động từ chứ không phải những tự động từ (động từ không cần bổ ngữ). Appamādena có nghĩa là bằng pháp không phóng dật (chánh niệm) và vì nó được dùng chung với tha động tự nên nó sẽ không được hiểu theo nghĩa của một mục đích mà theo nghĩa của một phương tiện cho sự thành tựu mục đích. Vì thế đoạn Pāḷi trong chú giải ở trên có thể được dịch là "Chúng ta nên hoàn thành các phận sự liên quan đến giới, định, tuệ bằng pháp không phóng dật." Như vậy lời cuối cùng của Đức Phật có nghĩa là: "các con nên làm tất cả những gì cần phải làm liên quan đến giới định và tuệ với tâm chánh niệm (không phóng dật”). Cách dịch tương tự cũng áp dụng cho câu 'appamādena sampādetha' mà trong các buổi lễ truyền giới cho người Phật tử các vị Tỳ-kheo chủ toạ thường đọc.
Lời Dạy Cuối Cùng
Lời dạy cuối cùng của Đức Phật vào cái đêm trước ngày nhập diệt (Bát Niết Bàn) gồm những từ "vaya dhamma saṅkhāra". Câu này có nghĩa rằng tất cả mọi hiện tượng của hiện hữu (các pháp hữu vi) đều phải chịu tan hoại và không đáng tin cậy; rằng tâm và vật chất đều vô thường, luôn luôn hoại diệt; rằng mọi sự cuối cùng đều sẽ phải chấm dứt và do đó chúng ta phải thực hành giới, định, và tuệ một cách triệt để. Chẳng hạn, hãy suy xét về căn nhà mà bạn đã xây xem. Bất chấp sự kiên cố của nó như một căn nhà mới, chắc chắn nó sẽ tan hoại theo thời gian và trước khi sự tan hoại cuối cùng của nó xảy ra nó sẽ hư hoại dần dần. Một căn nhà được người ta trông đợi kéo dài một trăm năm thì mỗi năm nó sẽ hư hoại một phần trăm và như vậy trong từng giây phút nó cũng có sự tan hoại tương xứng.
Chúng ta thường không nói đến những đơn vị thời gian nhỏ hơn một giây nhưng theo kinh điển, có rất nhiều sát-na tâm trong một giây và suốt quá trình của một giây ấy sự tan hoại xảy ra không ngừng. Giống như căn nhà khéo được xây dựng ấy, thân con người cũng phải chịu quy luật vô thường. Nó cường tráng rõ rệt ở độ tuổi mười sáu, đôi mươi. Lúc đó con người chấp thủ vào thân của mình, tin tưởng vào sức mạnh và tính chất tươi trẻ của nó. Họ cũng tự tin về kiến thức, sự hiểu biết và khéo léo của mình. Họ xem mình như được miễn khỏi sự hoại diệt nhưng thực sự cả tâm lẫn thân đều không bền vững ngay cả trong một cái nháy mắt. Thậm chí khi đang ngủ, đang ăn hay khi đang làm việc, các hiện tượng tâm-vật lý cũng vẫn sanh và diệt không ngừng. Điều này những hành giả thực hành chánh niệm liên tục theo phương pháp tứ niệm xứ có thể nhận ra được. Nó không phải là một kinh nghiệm vượt ngoài tầm khả năng của người bình thường. Một số người nói rằng ngày nay việc có được một kinh nghiệm như vậy là điều không thể xảy ra nhưng tôi nghĩ đây là một quan niệm sai lầm do thiếu sự thực hành lâu dài mà thôi.
Như vậy, do sự tan hoại không ngừng nầy mà ngay cả một người sống đến trăm tuổi cuối cùng cũng phải trở thành một thây ma. Chính vì tính chất mong manh của sự sống mà Đức Phật nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc thực hành giới, định, và tuệ để đi đến giải thoát.
Người hành thiền quan sát mọi hiện tượng ở từng sát na thấy, nghe, … , là đang thực hành chánh niệm đúng theo lời khuyên của Đức Phật “Appamādena sampādetha” "các con nên làm tất cả những gì cần phải làm liên quan đến giới định và tuệ với tâm chánh niệm (không phóng dật). Khi định phát triển, lúc đó sự hiểu biết sâu sắc về hai hiện tượng của hiện hữu, đó là sắc bị biết và tâm hay biết (nāmarūpaparicchedañāṇa, trí phân biệt danh và sắc) sẽ phát sanh. Kế tiếp, người hành thiền suy xét trên tính chất vô thường, khổ, và vô ngã của mọi hiện tượng (sammasanañāṇa, trí thẩm sát tam tướng). Trí này được theo sau bởi trí minh sát vào sự tan hoại của mọi hiện tượng ở từng sát na (udayabbayañāṇa, sanh diệt trí, hay trí quán sự sanh và diệt). Ở giai đoạn này người hành thiền thấy ánh sáng, có cảm giác đê mê và tin rằng việc thực hành minh sát của mình đã hoàn tất. Nhưng không phải như thế vì sau đó, nếu tiếp tục quán, vị ấy sẽ thấy cả danh và sắc đều diệt mất (Bhaṅga Ñāṇa, diệt trí, hay trí quán sự diệt).
Kế tiếp, chánh niệm liên tục sẽ dẫn đến trí quán sự sợ hãi (Bhaya Ñāṇa), trí quán sự nguy hiểm (Ādinav-Ānupassanā-Ñāṇa), trí quán sự nhàm chán (Nibbid-Ānupassanā-Ñāṇa), trí muốn giải thoát (Muñcitu-Kamyatā-Ñāṇa), trí quán sự tỉnh sát (Paṭisaṅkh-Ānupassanā-Ñāṇa) và trí xả đối với các hành (Saṅkhārupekkhā Ñāṇa). Những trí này vẫn chưa đủ để đưa người hành thiền đến mục tiêu tối hậu. Khi nó được phát triển, trí thuận thứ (Anuloma-Ñāṇa) và chuyển tộc (Gotrabhu-Ñāṇa) sẽ phát sanh và được theo sau bởi nhập lưu thánh đạo trí và nhập lưu thánh quả trí. Tuy nhiên, để đắc các đạo quả cao hơn, người hành thiền phải tiếp tục thực hành lại từ sanh diệt trí và kinh qua các loại trí minh sát khác theo đúng trình tự cho đến khi đạt đến nhất lai thánh đạo và nhất lai thánh quả. Rồi cũng lại lập lại tiến trình phát triển ấy cho đến khi đạt đến giai đoạn bất lai, và A-la-hán. Chỉ lúc đó người hành thiền mới đạt đến sự giải thoát viên mãn hợp theo lời khuyên cuối cùng của Đức Phật.
Như vậy, trong khi những người khác có thể sống phóng dật (quên), chìm đắm trong các dục trần và xa rời những thiện nghiệp, chúng ta sẽ tránh sống phóng dật, chiến thắng những điều ác bằng giới, loại trừ sự phóng dật của những tư duy ác và các dục trần bằng việc tu tập tâm. Có thể nói không phóng dật đóng vai trò chính yếu trong Đạo Phật. Thực vậy, theo các bản chú giải, không phóng dật là mẫu mực của lời Đức Phật dạy trong suốt sứ mạng 45 năm của ngài.
source https://theravada.vn/phan-21-giang-giai-kinh-doan-giam/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét