Thứ Năm, 23 tháng 7, 2020

PHẦN 22 – GIẢNG GIẢI KINH ĐOẠN GIẢM

Phần 22

- Bất Tín 

- Vô Tàm và Vô Quý 

- Thiểu Văn 

- Hoàn Thành Kiến Thức Trong Một Bài Kệ 

- Giống Như Người Chăn Bò  

- Kosajja - Giãi Đãi 

- Thất Niệm 

- Liệt Tuệ 

- Tứ Niệm Xứ và Thiền Minh Sát 

- Không Có Kiến Thức Của Con Người 

- Tuệ Phân Biệt Danh Sắc

Bất Tín (Assaddhi)

Saddhā có nghĩa là đức tin nhưng không phải là đức tin theo nghĩa chấp vào một quan niệm không có căn cứ và bất hợp lý. Saddhā ở đây chỉ muốn nói tới sự chấp nhận của chánh kiến về chân Phật, chân Pháp, chân Tăng và về quy luật nhân quả hay nghiệp báo. Tin vào nghiệp là chánh kiến dựa trên Saddhā hay tín. Bình luận về Tam Quy (saraṇa) các bản chú giải mô tả kiến ấy như chánh trực kiến về nghiệp (diṭṭhijukamma), có gốc ở đức tin (saddhā).

Giống như chánh kiến về nghiệp, chánh kiến nơi chân Phật, chân Pháp, và chân Tăng cũng là một vấn đề của đức tin. Mỗi tôn giáo đều có Đấng Thượng Đế hay bậc đạo sư tối thượng, có giáo lý do đấng sáng lập ấy dạy hoặc mặc khải và có những tín đồ theo giáo lý ấy. Làm thế nào để chúng ta biết được họ có phải là thật hay không phải thật? Đối với đạo Phật, câu trả lời là một vị chân Phật phải có chín ân đức. Một trong những ân đức đó là Arahan (A-la-hán) vốn có nghĩa không còn tham, sân, si và các phiền não khác và như vậy nó đủ để tiết lộ tính chân thật của vị đạo sư. Người ta nói rằng cái gọi là Đấng Thượng Đế hay Đấng Sáng Tạo muốn con người phải kính trọng và tôn thờ ông ta và sẽ trừng phạt những ai bất kính. Điều này đã cho thấy sự khát khao quyền lực và lòng sân hận của ông như thế nào. Nhưng Đức Phật dạy rằng chúng ta sẽ đi theo nghiệp của chúng ta, rằng thiện nghiệp sẽ cho quả tốt và ác nghiệp sẽ cho quả xấu. Ngài không nói rằng những người sùng bái ngài sẽ được cứu độ còn những người không sùng bái ngài sẽ bị trừng phạt. Trong lời dạy của ngài không có những dấu hiệu của tham hay sân. Ngài chỉ khuyên dạy các hàng đệ tử hãy tự giải thoát mình khỏi những phiền não ấy mà thôi.

Còn về giáo lý, cách kiểm chứng của nó là bằng kinh nghiệm. Giáo pháp phải có sáu ân đức và một trong số đó là thiết thực hiện tại (sandiṭṭhika), nghĩa là pháp phải được chứng ngộ, phải được kinh nghiệm ngay trong hiện tại. Vì thế chúng ta có thể biết giáo pháp ấy là chân hay giả dựa trên căn bản của sự kinh nghiệm. Các tôn giáo khác không nói cho chúng ta biết những gì tín đồ của họ có thể kinh nghiệm; tất cả những lời dạy của họ phải được cấp nhận bằng đức tin mù quáng. Còn giáo pháp của Đức Phật thích hợp với sự thẩm xét theo kinh nghiệm. Chẳng hạn, nếu một người thực hành theo sự chỉ dẫn của chúng tôi họ sẽ có được kinh nghiệm tâm linh trong khoảng hai tuần và nếu thực hành thêm năm hay sáu tuần nữa họ sẽ có những minh sát trí lạ thường.

Tăng cũng vậy, là chân tăng nếu có chín ân đức như ‘suppatipanna’, thiện hành hay khéo huấn luyện, khéo tu tập. Tất nhiên mỗi tôn giáo đều nhìn nhận tầm quan trọng của sự khéo tu tập nhưng chúng ta phải biết phân biệt giữa thiện tu và ác tu. Thiện tu có nghĩa là sẽ được giải thoát khỏi tham, sân và những điều ác khác. Một sự tu tập như vậy thường không tìm thấy trong các giáo pháp ngoài Phật Giáo. Những hệ thống tôn giáo ngoài Phật giáo không giúp chúng ta nhổ bật gốc những điều ác trong khi sự tu tập trong Phật Giáo bảo đảm sự dập tắt hoàn toàn của chúng. Tăng là những người đã nguyện tuân theo sự tu tập này.

Đức tin nơi Phật, Pháp, và Tăng đem lại rất nhiều lợi ích. Do thiếu đức tin này mà một số người chẳng những không làm điều thiện mà thậm chí còn làm những điều ác. Có những người bác bỏ nhân quả, không tin nghiệp (kamma) và ý niệm về một kiếp sống tương lai, vì thế họ không màng đến việc tránh ác và làm thiện. Do thiếu đức tin, một số ít ỏi điều thiện họ làm xuất phát từ lòng thương người đều bị những ác nghiệp đè bẹp. Hầu như họ không có gì để dựa vào cho hạnh phúc tương lai của họ sau khi chết. Trái lại người có đức tin biết tránh điều ác và làm mọi điều thiện đến mức có thể. Vì thế họ tạo được những tiến bộ tinh thần và bảo đảm một đời sau tốt đẹp.

Vô Tàm (Ahirika) và Vô Quý (Anottappa)

Hổ thẹn và sợ hãi là những gì chúng ta có thể kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng hổ thẹn không phải là cảm giác không vui vì không có quần áo đẹp hay địa vị trong xã hội. Hirī là sự hổ thẹn liên quan đến việc làm ác. Cũng vậy, ottappa có nghĩa là sợ hãi việc làm ác. Không có sự hổ thẹn hay lương tâm được gọi là vô tàm (ahirika, không biết hổ thẹn) và không có sự sợ hãi đối với việc làm ác được gọi là vô quý (anottappa, không biết sợ hãi). Vô tàm và vô quý thường đi chung với nhau nhưng hai loại khuyết điểm đạo đức này về tính chất lại khác nhau. Ví như một người sạch sẽ không muốn bị vấy bẩn bởi đồ dơ như thế nào, một người hiền lương cũng không muốn lương tâm (hirī, lòng tàm) mình bị vẩn đục bởi điều ác như thế ấy. Tuy nhiên chính ottappa (quý) mới sợ hãi hậu quả của điều ác. Nói cách khác, tàm (hirī) khiến một người do dự làm điều ác bởi vì nó dẫn người ấy đến chỗ suy xét: “Chỉ những người hèn nhát, ngu si, và những người thuộc giai cấp hạ tiện mới làm điều ác. Là một người thuộc gia đình cao quý, có trí tuệ, hiền thiện và can đảm, ta sẽ không làm điều ác.” Nhưng chính ottappa (quý) mới khiến một người biết sợ dư luận và miễn cưỡng làm điều ác.

Vì thế một vị Tỳ-kheo hay một người hành thiền hay một người hiền lương do lòng tàm (hirī) thúc đẩy sẽ tránh điều ác do ý thức về lòng tự trọng của mình hay người ấy có thể tránh điều ác do tôn trọng xã hội hay do sợ bị chư thiên nếu không muốn nói những người biết được việc làm xấu của mình, chỉ trích.

Như vậy, chúng ta chùn bước không làm điều ác khi lương tâm đạo đức làm cho chúng ta ghê tởm với việc ấy hay khi nghĩ đến những hậu quả tức thời và sau khi chết khiến chúng ta sợ hãi. Chỉ khi chúng ta không có lòng tàm quý (hổ thẹn và ghê sợ điều ác) chúng ta mới có khuynh hướng làm điều ác; nói cách khác, mọi ác nghiệp đều bén rễ trong việc thiếu hai pháp ngăn cản này. Tiến bộ tinh thần của con người là do hai pháp tàm và quý và nếu không có hai pháp này, về phương diện đạo đức, con người sẽ tụt thấp xuống mức của loài dã thú. Chính vì điều này mà tiếng Pāḷi gọi chúng là lokapāla-dhamma, pháp hộ trì thế gian, hay pháp được dùng để bảo vệ xã hội loài người.

Appassutatā (少聞, Thiểu Văn)

Theo Đức Phật; kiến thức nghèo nàn hay không có kiến thức cũng là một khuyết điểm mà chúng ta phải loại trừ để đoạn giảm phiền não.

Kiến thức có hai loại, một là kiến thức chúng ta có được do nghe (āgamasuta) và hai là kiến thức có được do hiểu biết độc lập (adhigamasuta). Trong khi nhiều người có thể vẫn trong tình trạng ngu dốt, chúng ta sẽ đi tìm kiến thức.

Một số loại kiến thức liên quan đến những công việc thế gian, một số liên quan đến đời sống tinh thần của chúng ta. Dù thuộc loại nào, kiến thức cũng là tốt. Kiến thức thế gian có lợi ích cho cuộc sống thế gian, vì thế càng biết nhiều, càng tốt. Một số người biết rất ít về những vấn đề thế gian. Kiến thức của họ bị giới hạn trong phạm vi khu vực họ ở; họ chưa bao giờ sống ở nơi khác. Sự ngu dốt ấy sẽ không đem lại lợi ích gì cho họ, nhất là khi đến thăm những nơi xa xôi, họ sẽ không biết phải làm gì. Vì thế chúng ta nên tìm kiếm kiến thức thế gian càng nhiều càng tốt.

Nhưng cái chúng tôi muốn nhấn mạnh là kiến thức thuộc tinh thần. Một số người có rất ít kiến thức về Phật-Pháp. Có số người chưa từng nghe nói về Đức Phật huống hồ biết được tí gì về giáo pháp của ngài. Có rất nhiều người như vậy ở khắp nơi trên thế gian. Ngay cả ở Miến Điện cũng vậy, Pháp hoàn toàn xa lạ đối với những người sống ở vùng biên địa. Ở một số ngôi làng cũng có những vị pháp sư nhưng những bài pháp nghiêm túc của họ rất khó để mọi người hiểu. Phần lớn những bài pháp chỉ đề cập đến việc bố thí, giữ giới, sự chết và tang lễ. Ngay cả như thế cách họ thuyết cũng không toàn diện mà có tính qua loa chiếu lệ và không đáp ứng được những gì mà truyền thống đòi hỏi cho những dịp vui hay buồn trong cuộc sống.

Có thể nêu ra đây một bài pháp mẫu của họ: “Bujjhatīti buddho yo bhagavā – Đức Thế Tôn được gọi là Phật bởi vì ngài đã thấy rõ tứ thánh đế. Một thời Đức Phật trú tại Kỳ Viên tinh xá ở kinh thành Xá-vệ (Sāvatthi). Lúc bấy giờ…” và v.v… Người thuyết thường nói bằng một cái giọng quyền hành. Họ ít khi nói cho người ta biết chính xác phải có thái độ như thế nào khi bố thí hoặc phải trau dồi những tư duy như thế nào mỗi khi giữ bát quan trai giới. Ở một số nơi những hướng dẫn như vậy vẫn chưa được mọi người lưu ý, nhất là những người vẫn xem những bài pháp truyền thống chỉ như những lời dạy của Đức Phật (tức người thuyết pháp chỉ lập lại những lời dạy của Đức Phật chứ không thuyết những gì có tính thực dụng trong cuộc sống). Trong những buổi thuyết pháp ấy, những bài pháp về thiền minh sát (vipassanā) thực sự rất hiếm.

Cái gọi là những hướng dẫn về thiền minh sát của một số vị thiền sư thì hầu như không chính xác và toàn diện. Chúng không bảo đảm cho người hành thiền thực hành theo đó sẽ đắc định, hay minh sát trí hay thành công trong thiền. Một số những hướng dẫn thậm chí còn thiếu thẩm quyền của kinh điển. Nói chung người ta không biết gì về thiền minh sát và người hành thiền phải tự thực hiện những nhu cầu tâm linh của họ. Qua những bài giảng của các vị thiền sư tinh thông, kinh nghiệm họ có thể gia tăng kiến thức của họ dần dần. Họ cũng nên nghiên cứu các cuốn sách có thẩm quyền và tham vấn các vị thầy đa văn quảng kiến về những vấn đề mà họ không hiểu. Ngày nay, có những bản dịch tiếng Miến về Kinh Điển Pāḷi có thể cho chúng ta một kiến thức tốt về Pháp. Tuy nhiên do cấu trúc câu từ cổ điển nên khi nghiên cứu chúng ta cần phải có sự giúp đỡ của một vị thầy.

Hoàn Thành Kiến Thức Trong Một Bài Kệ

Mức kiến thức mà người hành thiền phải có đã được chú giải giải thích khi bộ luận này mô tả một người hành thiền am tường như một người chỉ hiểu một bài kệ duy nhất nhưng sống đúng theo nó.

Như vậy sự hiểu biết thấu đáo về một bài kệ duy nhất có nghĩa là đã hoàn thành kiến thức. Dĩ nhiên nếu bạn hiểu nhiều hơn, thì càng tốt. Nhưng điều cần thiết là phải thực hành đúng theo những gì chúng ta hiểu. Bạn có thể tinh thông kinh điển nhưng kiến thức ấy sẽ có ít tác dụng nếu bạn không áp dụng nó vào cuộc sống hàng ngày của mình. Nó trở thành vô dụng và bạn cũng chẳng tốt hơn gì người hiểu biết ít về những giá trị đạo đức. Chẳng hạn, có câu chuyện về hai vị Tỳ-kheo trong chú giải Pháp Cú như sau:

Thời Đức Phật có hai người bạn ở kinh thành Xá-vệ cùng đi xuất gia với nhau. Sau khi học xong Luật Tạng (Vinaya) trong năm năm, hai vị được Đức Phật bảo rằng tuỳ theo quyết định của mình một vị Tỳ-kheo có thể làm một trong hai việc, đó là., hành thiền minh sát hoặc nghiên cứu Pháp. Một trong hai vị sư chọn hành thiền vì ông cảm thấy mình đã quá tuổi để có thể học pháp. Vì thế dưới sự hướng dẫn của Đức Phật, ông đi đến một trú xứ trong rừng để hành thiền và cuối cùng trở thành một vị A-la-hán đầy đủ bản lĩnh. Vị Tỳ-kheo kia học Pháp, thuyết giảng hết chỗ này đến chỗ kia cho 500 vị Tỳ-kheo.

Thời gian sau, một số đông Tỳ-kheo đi đến an cư mùa mưa trong rừng được vị Trưởng-lão hướng dẫn hành thiền và sau khi đắc A-la-hán thánh quả, các vị từ giã vị Trưởng-lão để đi về diện kiến Đức Phật. Vị Trưởng-lão nhờ các vị nhân danh mình đảnh lễ Đức Thế Tôn và các vị đệ tử của ngài cũng như vị Tỳ-kheo bạn hiện đang là pháp sư ở đó. Các vị Tỳ-kheo làm theo như vậy và vị Trưởng-lão Pháp sư đã giật mình khi thấy số đông Tỳ-kheo này tuyên bố là đệ tử của bạn mình. Ông đã không đánh giá cao về bạn mình như vậy. Ông tự hỏi tại sao một vị sư sống trong rừng chẳng bao giờ nghiên cứu Pháp lại có được nhiều đệ tử đến thế. Vì vậy ông nhất định sẽ vấn pháp khi vị sơn tăng này trở về.

Khi vị sơn tăng trở về diện kiến Đức Phật. Ngài gởi bát và y nơi phòng của vị Pháp sư và đi đến chỗ Đức Phật. Sau khi đảnh lễ Đức Phật xong, ngài quay trở lại chỗ bạn mình. Vị Pháp sư lúc đó đã sửa soạn một số câu hỏi để thử thách vị sơn tăng. Nhưng Đức Phật, sau khi đoán được ý định của vị pháp sư, đã đi đến chỗ cuộc hội ngộ để chặn trước bất kỳ cố gắng nào của ông nhằm làm bẽ mặt vị A-la-hán sống ở rừng bằng những câu hỏi không thích đáng. Vì một cố gắng như vậy sẽ đem lại cho ông những quả nghiệp rất nghiêm trọng.

Đức Phật đã hỏi vị pháp sư về các bậc thiền, sự đắc định và về danh và sắc (nāmarūpa). Tất nhiên vị này không thể trả lời những câu hỏi của Đức Phật. Ông đã bối rối khi được hỏi về thánh đạo nhập lưu. Nhưng đối với vị sơn tăng thì câu hỏi không có gì là khó. Đức Phật cũng hỏi họ về ba thánh đạo cao hơn khác, vị pháp sư một lần nữa bối rối nhưng vị sơn tăng đã trả lời được mọi câu hỏi.

Giống Như Người Chăn Bò

Đức Phật tán dương vị Tỳ-kheo ở rừng chứ không tán dương vị pháp sư. Điều này tất nhiên không làm hài lòng những đệ tử của vị pháp sư. Ngay sau đó Đức Phật tuyên bố, “Dù một người có thể thuyết pháp, hay giảng giải về sự an lạc và hạnh phúc của con người, nhưng nếu người ấy không thực hành, người ấy cũng không thoát khỏi những phiền não; người ấy không thể đạt đến một thánh đạo nào. Và như vậy người ấy chẳng khác gì một người chăn bò kiếm sống bằng cách đếm bò và giữ bò cho người khác.”

Chúng ta biết người chăn bò phải chăm sóc đàn bò và cuối ngày giao nó lại cho chủ. Anh ta làm công việc chỉ để lấy tiền, không được chút sữa nào từ bày bò anh chăm sóc mà phần ấy thuộc về người chủ. Cũng vậy, vị Tỳ-kheo dạy pháp được hàng đệ tử chăm sóc và cúng dường thức ăn như một hình thức trả ơn cho dịch vụ của vị ấy. Nhưng không thực hành, vị ấy không thể hưởng được những quả lợi ích của pháp như thiền định, thiền minh sát, đạo và quả. Thực sự những quả lợi ích của pháp chỉ có ý nghĩa đối với những người sau khi đã được nghe nó từ một vị sư đa văn và rồi thực hành nó cũng giống như sữa chỉ có người chủ bò được dùng nó mà thôi vậy.

Nếu một người thuyết về ngũ giới, nhưng bản thân không thực hành chúng, họ có thể được kính trọng như một người thầy nhưng sẽ không được lợi ích gì từ giới. Chỉ những người áp dụng giới trong cuộc sống hàng ngày mới hưởng được những quả lợi ích của giới trong đời này và đời sau. Cũng vậy, những quả lợi ích của các pháp cao hơn chỉ dành cho những người thực hành thiền định và thiền minh sát thọ hưởng. Tất nhiên là việc thực hành phải đúng. Người hành thiền thọ trì pháp thiền một cách nghiêm túc có thể không nói được nhiều về pháp nhưng người ấy được bảo đảm về những quả của thánh đạo và sự diệt tận của phiền não và khổ đau.

Chính vì vậy Đức Phật luôn nhấn mạnh đến sự cần thiết của thực hành. “Một người dù chỉ có thể nói được một ít về pháp nhưng nếu người ấy thực hành giới, định, và tuệ hợp theo pháp, người ấy sẽ thấy rõ sự thực, khắc phục được tham, sân, si, và không chấp thủ đời này hay đời sau, tâm người ấy được giải thoát hoàn toàn và vị ấy là người đã đoạn trừ hết mọi phiền não.”

Đây là đoạn dịch từ kinh Pāḷi hỗ trợ cho lời tuyên bố trong chú giải nói rằng dù chỉ nghe một bài kệ nhưng ghi nhớ và hành theo sẽ đem lại lợi ích cho chúng ta và nó cũng có thể có nghĩa là hoàn thành tri kiến. Lại nữa trong kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt Đức Phật nói rằng một tinh thần tìm hiểu (biết hỏi những điều cần hỏi) góp phần vào sự củng cố tri kiến và các thiện nghiệp của thân, khẩu, ý trong đời này và rằng một người có tâm tìm hiểu như vậy có thể sẽ đạt đến cảnh giới chư thiên sau khi chết và nếu tái sanh làm người sẽ là người rất mực thông minh.

Vì thế chúng ta nên tầm cầu kiến thức qua sự thẩm tra, xét hỏi. Như ngạn ngữ Miến thường nói Việc hỏi là tuỳ bạn, nếu bạn không biết những phương pháp hành thiền hay nếu bạn không nắm rõ một điều gì về Pháp hay nếu việc nghiên cứu kinh điển vẫn còn làm cho bạn bối rối và không sáng tỏ, thì hãy hỏi. Thậm chí có những điều thiền sinh không hỏi các vị thiền sư vẫn giúp họ. Lúc mới đầu, người hành thiền có thể không biết gì cả nhưng họ có thể có được nhiều kiến thức dưới sự hướng dẫn của một vị thiền sư. Bạn không nên nghĩ rằng việc hành thiền minh sát là bất khả nếu không có một kiến thức nhất định về uẩn, xứ, giới, v.v… Vì mỗi ngày vị thiền sư sẽ nói cho người hành thiền biết tất cả những gì họ cần phải biết khi xem xét sự tiến bộ của họ. Hơn nữa, trong lúc hành thiền, hành giả sẽ có những tuệ minh sát lạ thường. Như vậy người hành thiền ở trung tâm này vừa có được kiến thức do vị thầy truyền đạt và vừa có được kiến thức dựa trên kinh nghiệm.

Kosajja (懈怠, Giãi Đãi)

Một người có thể giãi đãi (lười biếng) trong những công việc đời thường hay trong đời sống tinh thần của anh ta. Nói chung hai loại giãi đãi này thường đi với nhau. Loại giãi đãi sau khiến một người do dự làm điều thiện, miễn cưỡng nghe pháp, không sẵn lòng học hỏi kinh điển hay hành thiền. Chúng ta nên vượt qua sự giãi đãi này và vận dụng sự tinh tấn tích cực.

Có bốn loại chánh tinh tấn (sammāpadhāna), đó là., 1) tinh tấn ngăn ngừa sự sanh khởi của những thân hành ác, lời nói ác, và ý nghĩ ác mà chúng ta vẫn chưa phạm, 2) tinh tấn tránh lập lại một điều ác chúng ta đã phạm, 3) tinh tấn trau dồi những thân hành thiện, lời nói thiện, và ý nghĩ thiện chưa sanh, 4) tinh tấn duy trì và phát triển điều thiện chúng ta đã làm. Như vậy, chúng ta nên tránh điều ác mà chúng ta đã thấy hay nghe ở ai đó đã làm nhưng vẫn chưa xảy ra đối với chúng ta; thấy rằng một điều ác đã khởi lên và không lập lại nó là loại tinh tấn thứ hai; làm những điều thiện mà chúng ta vẫn chưa làm, đặc biệt là thiền minh sát chúng ta vẫn chưa thực hành là loại thứ ba và cố gắng duy trì cũng như phát triển điều thiện chúng ta đã làm, đặc biệt là thiền định và minh sát trí chúng ta đã có được là loại tinh tấn thứ tư.

Thiền đòi hỏi phải có bốn loại chánh tinh tấn này. Nếu bạn không quan sát các căn hay giác quan của mình bạn sẽ bị quấy rối bởi những điều ác cũ và mới. Mỗi sát na chánh niệm có nghĩa là chúng ta đã tinh tấn chặn trước cả hai loại ác chưa sanh lẫn đã sanh; và nó cũng có nghĩa là đã tinh tấn phát triển các minh sát trí mới cũng như tinh tấn để gia tăng và hoàn thiện các minh sát trí đã phát sanh nơi chúng ta.

Một số người lười biếng không muốn tự thân bố thí mà bảo người khác làm thay cho họ. Sự bố thí do uỷ nhiệm này về phương diện nghiệp báo không đem lại lợi ích nhiều cho họ. Một số người Phật tử lười biếng không muốn tụng kinh ở Phật điện hay nghe pháp, hay nghiên cứu kinh điển hoặc hành thiền. Cho dù có hành thiền, họ cũng không vận dụng hết sức tinh tấn. Có thể nói họ chỉ hành một cách miễn cưỡng và do đó có rất ít tiến bộ. Tất cả những thiếu sót này là do lười biếng. Vì thế họ nên phát khởi nghị lực để làm những điều được xem là thiết yếu cho đời sống tinh thần của họ.

Thất Niệm (Muṭṭhassacca)

Về cơ bản, thất niệm, quên và phóng dật (pamāda) là giống nhau cũng như thận trọng và chánh niệm vậy. Vì thế những gì chúng tôi đã nói về pamāda (phóng dật) có thể áp dụng cho thất niệm. Nếu thất niệm trong những công việc đời thường hay trong đời sống tinh thần đem lại sự tai hại thì chánh niệm trong cả hai lãnh vực ấy của cuộc sống sẽ đem lại lợi ích.

Một số người giàu không bao giờ bố thí. Do khiếm khuyết về bố thí một tương lai bất hạnh sẽ chờ đợi họ sau khi chết. Một số không quan tâm đến giới; thậm chí ngũ giới cũng không được họ giữ một cách nghiêm túc. Họ thường nói rằng họ vẫn chưa già và còn đang sống một cuộc sống thoải mái (nên chưa cần phải giữ giới). Nhưng họ có biết đâu rằng bao người trẻ đã chết! và nếu chết không giới, họ có thể phải đoạ vào bốn ác đạo. Vì thế, chúng ta nên ghi nhớ trong tâm sự quan trọng của giới ngay cả khi còn trẻ. Thiền định, thiền minh sát và vấn đề tu tập tâm còn xa lạ đối với hầu hết mọi người. Có những người biết được một chút nào đó về thiền thì lại nghĩ rằng những pháp cao siêu này không dành cho thế hệ của họ. Nhưng nếu họ chết trẻ chắc chắn họ sẽ bỏ lỡ kinh nghiệm tâm linh vô giá này.

Thiền minh sát đặc biệt quan trọng. Nếu một người Phật tử không đạt được những kết quả của thiền minh sát, sự tin tưởng vào Phật-Pháp của họ kể như không đáp ứng được mục đích. Vì trong khi bố thí, trì giới, và thiền định có thể được tìm thấy ở các tôn giáo khác thì thiền minh sát là giáo lý duy nhất của Đức Phật. Thực hành minh sát đúng cách không phải là việc dễ. Một số người có mong muốn thực hành minh sát nhưng họ đã chết mà không hoàn thành được ước nguyện của mình vì không có người hướng dẫn.

Một số không bỏ lỡ cơ hội hành thiền này. Lúc ban đầu có thể chánh niệm của họ chưa đủ mạnh nên nhiều hiện tượng lẽ ra họ phải quan sát và loại trừ, đã thoát khỏi sự chú ý của họ. Song với sự phát triển của trí minh sát vào bản chất sanh diệt của mọi hiện tượng trong từng sát-na, sự chú ý của họ trở nên nhạy bén hơn và được tập trung tốt hơn trên mọi hiện tượng khởi sanh. Lúc này không có gì thoát khỏi sự ghi nhận của họ. Với chánh niệm như vậy cuối cùng họ có thể đạt đến bốn giai đoạn của thánh đạo.

Chánh niệm mà người hành thiền có được nhờ quan sát trên các đối tượng giác quan được nhấn mạnh trong Kinh Niệm Xứ, đó là, chánh niệm trên thân, thọ, tâm, và pháp. Như trong kinh nói, “Sabbaṁ abhiññeyya – (người hành thiền phải biết tất cả mọi hiện tượng xuất hiện)”, mọi hiện tượng ở đây muốn nói tới tất cả hiện tượng tâm-vật lý hay danh và sắc phát sanh từ sáu giác quan. Điều này đòi hỏi phải hướng tâm đến những gì được thấy trong lúc ấy và ghi nhận sự kiện đó, đối với các hoạt động nghe, ngửi, nếm,… cũng vậy. Sự chú ý được tập trung trên các đối tượng khi chúng sanh khởi nối tiếp nhau. Nếu trong khi đang quan sát sự phồng và xẹp của bụng, bạn nghe hay ngửi thấy một cái gì bạn có thể chuyển sự chú ý qua đối tượng ấy. Làm thế nào để không một điều gì thoát khỏi sự chú ý của bạn hay bạn quên (không ghi nhận) nó. Một sự chú ý nhạy bén đặc biệt như vậy thường xuất hiện cùng với sự phát triển của sanh diệt trí (udayabbayañāṇa). Sự chú ý rơi trên đối tượng ngay tức thời giống như những con chim mổ hết hột thóc này đến hột thóc khác vậy. Đây là một trạng thái tâm gọi là chánh niệm hiện tiền (upaṭṭhitasati).

Duppaññatā - Liệt Tuệ

Chúng ta nên thực hành pháp đoạn giảm (Sallekha dhamma) với mục đích chứng đắc trí tuệ minh sát. Những người ngoài Phật Giáo không thể có trí tuệ minh sát, kể cả những người theo đạo Phật nhưng không hành thiền theo kinh Đại Niệm Xứ cũng thế. Thậm chí những người thực hành theo phương pháp Tứ Niệm Xứ nhưng nếu mục đích của họ chỉ là để đắc định hoặc thiền cũng không có trí tuệ minh sát này.

Tứ Niệm Xứ Và Thiền Minh Sát

Một số người cho rằng những gì dạy trong kinh Đại Niệm Xứ không phải là thiền Minh Sát mà là thiền định vì, theo họ, satipaṭṭhāna (niệm xứ) được kể trong định uẩn hay trong nhóm định (samādhikkhandha) và như vậy đã hàm tàng chánh tinh tấn và chánh định. Quan niệm này được dựa trên một nghiên cứu hời hợt về bài kinh và chú trọng quá nhiều đến từ satipaṭṭhāna (niệm xứ). Trong khi đó, phần đầu của bài kinh có đề cập đến từ Tỉnh Giác “Sampajano - tỉnh giác hay sự hiểu biết đúng như thực bằng phân tích” và từ này chắc chắn chỉ nói đến trí tuệ minh sát. Phần sau của bài kinh nói đến Quán tánh sanh và diệt – “samudayavayadhammanupassi – quán sự sanh khởi và nguyên nhân của sự hoại diệt”. Tu tập thiền chỉ (Samatha bhāvanā) không liên quan đến việc minh sát vào tính chất sanh diệt và các nhân của chúng. Hay nói khác hơn nó chỉ đòi hòi người hành thiền phải giới hạn sự chú tâm của họ trên đối tượng đã chọn để duy trì sự ổn định.

Bài kinh cũng nói về trạng thái thoát khỏi tham ái và tà kiến (anissito ca viharati); không chấp trước vào bất cứ thứ gì ở đời (na ca kiñci loke upādiyati). Tu tập thiền chỉ không liên quan đến việc giải thoát khỏi tham ái, tà kiến và vô chấp vốn chỉ thích hợp với thiền minh sát. Ngay cả phần nói về hơi thở vô ra,… của thiền chỉ, cũng được định rõ là không chỉ dành cho sự tu tập thiền định thôi mà còn để góp phần vào sự tu tập minh sát trên căn bản của định nữa. Không cần phải bình luận về phần thiền minh sát của bài kinh. Chúng ta thấy việc quán thọ, tâm và pháp cũng đã không liên quan gì đến thiền chỉ và không có gì phải hoài nghi về tầm quan trọng của chúng trong sự thực hành minh sát vậy.

Không Có Kiến Thức Của Con Người

Người hành thiền khi đi phải biết rằng mình đang đi. Lời dạy này của Đức Phật trong kinh Đại Niệm Xứ có thể bị những người ngu dốt xem thường. Đối với họ lời dạy ấy không có chút gì đáng kể vì sự hiểu biết mà bài kinh nói đến ngay cả những con vật như chó, mèo,… cũng có. Để loại trừ sự hiểu lầm này, chú giải đã giải thích lời tuyên bố ấy và sự giải thích của chú giải không phải là một sự sửa sai lại kinh điển Pāḷi hay một sự thêm thắt gì vào đó mà, có thể nói, đó chỉ là một sự xác chứng hợp với tinh thần của Phật-Pháp (Buddha-Dhamma) mà thôi.

Theo chú giải, thực sự rằng khi đang di chuyển (đi) ngay cả một con chó cũng biết rằng nó đang di chuyển. Nhưng để biết rằng cái đang di chuyển ấy hợp với kinh Đại Niệm Xứ thì lại trái ngược hoàn toàn với tâm của một con vật. Đối với những con vật và những người bình thường không hành chánh niệm sẽ không biết được rằng họ đang di chuyển ở từng khoảnh khắc của việc bước. Họ cũng không biết được rằng những bước chân nối tiếp nhau bao hàm trong tiến trình ấy là do ước muốn đi tạo ra. Đôi lúc một người có thể nhất thời biết những gì mình đang làm nhưng nói chung họ luôn đãng trí và chìm đắm trong những suy nghĩ không dính dáng gì đến những gì họ đang làm.

Hơn nữa, ý thức của họ gắn liền với niềm tin vào tự ngã. Họ tin rằng thân và tâm của họ vẫn giữ nguyên như vậy bất kể thời gian và không gian có thay đổi. Họ không thể vượt qua được cái ảo tưởng này do sự hay biết bình thường không phải là hoạt động của chánh niệm (nghĩa là nó không làm cho họ có chánh niệm được). Sự hay biết bình thường thậm chí còn có thể củng cố cho niềm tin vào tự ngã hay ngã kiến của họ. Và điều này không liên quan gì với chánh niệm vốn được Đức Phật nhấn mạnh trong kinh Đại Niệm Xứ.

Khi định tâm phát triển, người thực hành chánh niệm học cách để phân biệt giữa thân và tâm. Người ấy phân biệt được tính cứng và chuyển động của thân khác với tâm; người ấy biết tính cứng và chuyển động này xuất hiện do ước muốn chuyển động (khởi lên) như thế nào, người ấy cũng thấy được sự biến mất của ước muốn và chuyển động ở từng sát-na ra sao. Trong khi đi người ấy quan sát và nhận thức rõ tính không liên tục và sự tan biến trong sáu động tác hay nhiều hơn sáu động tác ở mỗi bước vị ấy bước.

Trả Lời Ba Câu Hỏi

Sự minh sát rõ ràng này đưa ra được câu trả lời cho ba câu hỏi, đó là., 1) Ai đi? Có một ngã thể đi hay không? 2) Cái đi ấy là của ai? Có tác nhân nào làm việc đi hay không? 3) Tại sao cái đi xảy ra?

1) Không có một ngã thể đi vì rõ ràng đó chỉ là một tiến trình sanh và diệt nối tiếp nhau của ước muốn đi và các trạng thái cứng và chuyển động.

2) Không có một chủ thể hay tác nhân nào làm việc đi cả.

3) Chỉ có sự tập hợp của các yếu tố vật lý, đó là tính cứng và chuyển động,… Không có tác nhân nào tạo ra cái đi ngoài ước muốn đi và những yếu tố vật lý nối tiếp nhau.

Tuệ Phân Biệt Danh Sắc (Nāmarūpaparicchedañāṇa)

Người hành thiền thực hành chánh niệm ở từng khoảnh khắc đi,… như vậy sẽ phát triển được trí tuệ minh sát đúng theo kinh Đại Niệm Xứ. Những người không chánh niệm không có được tuệ giác này và bước đi với loại tâm tiêu biểu tính cách của những con vật. Sự khác biệt giữa danh và sắc không bao giờ xảy ra đối với họ. Trái lại người hành thiền có chánh niệm phân biệt được giữa các yếu tố vật lý của sự cứng và chuyển động cùng với tâm quan sát ở từng khoảnh khắc, dù cho họ đang làm gì.

Sự xuất hiện của trí tuệ phân biệt danh sắc tùy thuộc vào mức chánh niệm liên tục của một người đối với những gì họ đang làm cũng như đối với những hành động của thân. Tuệ này được gọi là tuệ phân biệt danh sắc và sự nội quan (xoay vào bên trong) là tuyệt đối cần thiết cho sự phát triển của nó. Tuệ này không tùy thuộc vào sự suy đoán hay suy xét. Về vấn đề cho rằng chỉ có danh và sắc, danh bao gồm tám mươi mốt loại tâm hiệp thế và năm mươi hai tâm sở, còn sắc bao gồm hai mươi tám loại sắc,…là vấn đề thuộc kiến thức dựa trên khái niệm. Nó không phải là trí tuệ minh sát độc lập.

Thế nào là tám mươi mốt loại tâm hiệp thế? Liệu tất cả những loại tâm ấy có khởi lên trong tâm của một người bình thường không? Chín loại tâm quả đáo đại (mahaggata vipāka) chỉ được tìm thấy trong các cõi Phạm Thiên sắc giới và vô sắc giới. Các tâm thiện, duy tác đáo đại (mahaggata kusala, kiriyā) là thuộc tính của những người đã đắc thiền. Ngay cả những tốc hành tâm duy tác dục giới cũng chỉ được thấy nơi các vị A-la-hán. Liệu bạn có thực sự biết những loại tâm này không có trong tâm bạn không? Trong hai mươi tám loại sắc có một loại gọi là iṭṭhibhāvarūpa (sắc nữ tánh) chỉ thuộc về giới phụ nữ. Liệu những người đàn ông có thể biết được loại sắc này bằng kinh nghiệm không? Có phải kiến thức phát sanh do suy xét trên cái không thể biết được xem là kiến thức về thực tại không? Chúng ta phải thành thực thừa nhận rằng đó chỉ là sự hiểu biết về những tên gọi và khái niệm đã được áp đặt trên những thực tại cùng tột mà thôi. Hiển nhiên sự hiểu biết theo khái niệm khác xa với sự hiểu biết sâu sắc hay minh sát trí vào sự khác biệt giữa danh và sắc, một loại tuệ minh sát thấp nhất và hoàn toàn xa lạ đối với những người không thực hành chánh niệm.



source https://theravada.vn/phan-22-giang-giai-kinh-doan-giam/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TẠNG KINH – TIỂU BỘ – MILINDA VẤN ĐẠO – NGÀI INDACANDA DỊCH

  Vị vua ấy tên là Milinda ở kinh thành Sāgalā đã đi đến gặp Nāgasena, ví như dòng sông Gaṅgā đi đến với biển cả.  Sau khi đi đến gần vị có ...