Phần 23
- Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên
- Tuệ Thẩm Sát Tam Tướng
- Tuệ Sanh Diệt
- Tuệ Diệt
- Bhayañāṇa – Ādīnavā ñāṇa - Nibbidāñāṇa
- Muccitukamyatāñāṇa và Các Tuệ Minh Sát Khác
- Cố Chấp
- Sự Cố Chấp Giữa Những Người Phật Tử
- Tỳ Kheo Sāti và Ngã Kiến
- Tỳ Kheo Ariṭṭha
Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Paccayapariggahañāṇa)
Thực hành chánh niệm liên tục sẽ tạo ra tuệ minh sát vào mối quan hệ nhân quả giữa danh và sắc. Khi định của bạn phát triển, bạn trở nên chánh niệm rõ hơn về những gì bạn làm cũng như về những gì xảy ra trước khi bạn làm một điều gì. Chẳng hạn, khi đang quan sát sự phồng xẹp, bạn cảm thấy ngứa ở đâu đó. Bạn muốn gãi, bạn ghi nhận ước muốn (gãi), sự co và duỗi, … của tay bạn. Theo cách này bạn hay biết được mối quan hệ nhân quả giữa tâm của bạn và những thay đổi trong những động tác của thân bạn.
Hơn nữa, vào khoảnh khắc thấy với chánh niệm bạn nhận thức rõ được các nhân làm phát sanh nhãn thức, đó là., nhãn căn, cảnh sắc và sự chú ý đến cảnh sắc ấy. Thường thường, người hành thiền có được sự nhận thức rõ như vậy là nhờ bắt đầu với sự nghe. Người ấy nhận thức được rằng cái nghe tuỳ thuộc vào nhĩ căn, âm thanh và sự chú ý đến âm thanh ấy. Điều này sẽ trở nên rõ ràng hơn trong trường hợp của những âm thanh khó chịu mà hành giả không thể phớt lờ được.
Khi người hành thiền đang quan sát sự phồng và xẹp, tâm vị ấy có thể lang thang đi nơi khác (phóng tâm). Nếu vị ấy không quan sát khuynh hướng này, nó sẽ biến thành một sự suy nghĩ lan man. Đôi khi vị ấy ghi nhận được nó và đưa sự chú ý của mình vào phồng xẹp trở lại. Lúc đó vị ấy biết được nhân sanh của chúng, nghĩa là vị ấy biết do tác ý không như lý (ayonisomanasikāra) mà tâm lang thang hay phóng tâm, và nhờ tác ý như lý (yonisomanasikāra) vị ấy ngăn được sự phóng tâm này. Thỉnh thoảng tâm vị ấy dường như rỗng không. Phồng xẹp không rõ ràng, thân có vẻ như đã biến mất và vị ấy nghĩ rằng không có gì để cho vị ấy ghi nhận nữa. Sau đó vị ấy lại ghi nhận được mọi cảnh trần phát sanh. Vị ấy biết rằng chánh niệm có mặt là do có đối tượng của sự chú tâm.
Hơn nữa, vị ấy cũng nhận ra rằng sự trở thành không ngừng của danh sắc trong kiếp hiện tại là do nghiệp quá khứ làm duyên. Như vậy sự hiểu biết của vị ấy đã được mở rộng, tất nhiên ở đây chỉ đề cập đến một số sự kiện rõ ràng mà thôi. Tuệ minh sát của vị ấy vào mối quan hệ nhân quả giữa danh và sắc được kết hợp với Đoạn Nghi Thanh Tịnh (kankhāvitaraṇavisuddhi). Tuệ này phát sanh do kinh nghiệm chứ không phải do lý luận mà có. Theo bộ luận Thanh Tịnh Đạo, tuệ này bảo đảm một sự tái sanh tốt và đưa đến nhập lưu thánh đạo. Tuy nhiên người hành thiền phải không được tự mãn với nó mà nên tiếp tục việc hành thiền của mình.
Tuệ Thẩm Sát Tam Tướng (Sammāsanañāṇa)
Khi vị ấy tiếp tục hành thiền, vị ấy sẽ biết rõ được sự tan hoại của các hiện tượng tâm vật lý (danh-sắc) từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt. Trong khi quan sát từng hiện tượng danh sắc, tâm vị ấy có thể phóng đi, vị ấy ghi nhận nó, và những ý nghĩ lan man này biến mất. Trước đây vị ấy không thể theo dõi được từng ý nghĩ ngay tức thì như vậy, nhưng bây giờ vị ấy có thể chú ý đến nó ngay được liền. Vì thế vị ấy hiểu rõ sự sanh khởi của nó, sự diễn tiến của nó và sự hoại diệt của nó một cách thấu đáo. Những ý nghĩ thường biến mất khi vị ấy tập trung trên chúng, nhờ vậy vị ấy có được một tuệ giác rõ ràng về quy luật vô thường.
Các đối tượng và những dấu hiệu sanh khởi trong tâm vị ấy dần dần biến mất. Ở đây những hình ảnh trong tâm như cây cối, con người, các vị sư, …, là những khái niệm nhưng tâm thấy chúng là một thực tại. Tuy nhiên tâm cũng biến mất và vị ấy sẽ hay biết được những ảo ảnh này.
Khi đi, người hành thiền thấy sải bước này biến mất trước khi vị ấy bước một sải bước khác. Trong mỗi sải bước cũng vậy, sự nhấc chân lên, đưa về phía trước và đặt chân xuống, mỗi động tác như vậy sẽ xuất hiện như một sự chuyển động riêng biệt. Hay có thể nói mỗi bước được tách rời ra và vì thế tính nhất thời của nó thể hiện rất rõ ràng. Đối với sự phồng xẹp của bụng cũng được thấy đúng như vậy.
Khi bạn nhận thức được tính vô thường của mọi hiện tượng như vậy, bạn đã có tuệ thẩm sát tam tướng (sammasanañāṇa). Tuệ này làm cho bạn biết được bản chất không vừa lòng (unsatisfactory nature), khổ, hữu vi và vô ngã cũa tất cả hiện hữu. Nó được gọi là sammasanañāṇa vì nó khiến bạn phải suy đi xét lại không ngừng về bản chất vô thường, khổ, và vô ngã, ba dấu ấn của sự hiện hữu mà bạn vừa mới khám phá. Tuệ thẩm sát tam tướng này là tuệ đầu tiên trong mười loại tuệ minh sát.
Tuệ Sanh Diệt (Udayabbayañāṇa)
Nếu bạn tiếp tục quan sát không suy xét trên ba dấu ấn của sự hiện hữu, sự nhận thức và hay biết của bạn sẽ trở nên sắc bén và nhanh hơn. Bạn sẽ giữ được chánh niệm liên tục mà không cần phải có một nỗ lực đặc biệt nào cả. Bất cứ điều gì xảy ra với đối tượng của sự chú ý cũng sẽ rất nhanh chóng và rõ ràng. Chỉ có sự sanh và diệt. Ở giữa sự sanh và diệt này bạn không thấy bất cứ thứ gì cả. Tuệ chỉ đi sâu vào sự sanh và diệt hay sự bbắt đầu và chấm dứt của mọi hiện tượng này được gọi là Tuệ Sanh Diệt (Udayabbayañāṇa).
Ở giai đoạn này sự nhận thức và trí của bạn sắc bén đến độ bạn có thể theo dõi được tất cả các đối tượng giác quan vốn sanh khởi rất nhanh. Dường như không có gì thoát khỏi sự chú ý của bạn. Bạn thấy được ánh sáng rực rỡ kỳ diệu, và cảm nghiệm một trạng thái đê mê, sung sướng. Tuy nhiên kinh nghiệm này chỉ là sản phẩm phụ của việc thực hành minh sát. Bạn sẽ không có kinh nghiệm này nếu bạn không đạt đến tuệ sanh diệt và bạn không thể có được tuệ đó nếu bạn thực hành không đúng hoặc nếu bạn thực hành không đều đặn. Việc thực hành không ngừng nghỉ cả ngày lẫn đêm trừ một vài giờ ngủ là cần thiết cho sự chứng đắc tuệ này và dẫn đến các đạo trí cao hơn.
Kinh nghiệm đầy hoan hỷ xuất phát từ tuệ sanh diệt này làm phát sanh đức tin mãnh liệt và bảo đảm một sự tái sanh an vui trong những cõi cao hơn. Trong Kinh Ví Dụ Con Rắn (Alagaddūpama) của Trung Bộ Kinh Đức Phật có nói: “Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta, thì tất cả những vị ấy được hướng về chư Thiên.” Chú giải giải thích đoạn kinh này như sau:
“Lời này của Đức Phật muốn nói đến những người đang thực hành Minh Sát. Những hành giả này chưa có được những quả lợi ích của Thánh Đạo ngoài việc thực hành minh sát với đức tin. Nghĩa là vì tin Đức Phật mà họ thực hành. Trong khi đang nỗ lực để đạt đến những tuệ minh sát, họ trào dâng một niềm tịnh tín nơi Đức Phật và đức tin này sẽ đưa họ đi tái sanh trong thế giới chư thiên như thể có một đôi tay nâng họ lên trên đó vậy.”
Ở đây đức tin mà Kinh Điển Pāḷi muốn nói tới là niềm tin mãnh liệt phát sanh như kết quả của việc thực hành minh sát. Niềm tin này thường trào dâng trong lúc ánh sáng nhất thời của tuệ minh sát cấp thấp phát sanh. Nó thể hiện rất rõ ràng cùng lúc với sự xuất hiện của tuệ sanh diệt (udayabbañāṇa).
Theo chú giải thì người có được loại đức tin này được gọi là bậc Tiểu Nhập Lưu (Cūlasotāpanna). Điều này đã được trích dẫn trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga).
Tuệ Diệt (Bhangañāṇa)
Thực hành tiếp tục đưa đến sự biến mất dần và cuối cùng là mất hẳn của ánh sáng, hỷ lạc, và những kinh nghiệm phi thường khác. Những sự kiện xảy ra trong tâm trở nên dễ thấy và rõ ràng hơn bao giờ hết. Các hiện tượng không xuất hiện ra tướng và biến mất nhanh chóng. Dường như chúng biến mất trước khi người hành thiền quan sát được chúng. Trong khi đang quan sát sự phồng xẹp,…người hành thiền không có một hình ảnh trong tâm nào về (cái) bụng hay thân hay chân tay gì cả. Các đối tượng của sự chú ý không di chuyển từ nơi này đến nơi khác mà biến mất tức thời ngay chính tại chỗ (sanh lên) của nó. Có thể nói các hiện tượng mà người hành thiền quan sát biến mất cùng với sự biến mất của tâm. Sự nhận thức về những sự kiện này được gọi là Tuệ Diệt (Bhangañāṇa) hay trí minh sát vào tính chất tan hoại của các pháp. Người hành thiền đạt đến tuệ này không phải bằng suy luận mà bằng sự nội quan. Chẳng hạn khi quan sát sự co và duỗi (của tay hay chân) vị ấy không có một hình ảnh nào về cánh tay và vị ấy cũng không hình dung bất cứ sự chuyển động nào của nó. Vị ấy chỉ thấy sự biến mất của tâm quan sát và đối tượng của sự chú ý như những đơn vị tách rời nhau. Đối với sự phồng xẹp của bụng cũng tương tự như vậy.
Từ lúc người hành thiền thấy các đối tượng của sự chú ý diệt mất đi như vậy, vị ấy sẽ không thấy có lý do gì để phải gán cho những vật ấy là thường, lạc, ngã, tịnh nữa. Vị ấy đã nhận ra bản chất thực của hiện hữu, đó là, tính chất vô thường, khổ và vô ngã của nó. Vì thế theo Thanh Tịnh Đạo, chỉ có tuệ diệt mới có thể giúp người hành thiền vượt qua được những ảo tưởng về thường, lạc, và ngã đối với sự hiện hữu của vị ấy một cách thấu đáo.
Bhayañāṇa, Ādīnavāñāṇa, và Nibbidāñāṇa
Với tuệ kinh úy (Bhayañāṇa), người hành thiền gần như đã cầm chắc được những tiến bộ thêm nữa. Thực hành tiếp tục sẽ giúp vị ấy phát triển được các tuệ minh sát khác. Chỉ thấy sự tan hoại, vị ấy trở nên sợ hãi (bhayañāṇa: kinh úy tuệ, hay tuệ thấy sự sợ hãi). Vị ấy thấy ra những khuyết điểm (ādīnavāñāṇa: quá hoạn tuệ, tuệ thấy những tội lỗi hay khuyết điểm trong ngũ uẩn). Vì thế vị ấy trở nên chán ghét sự hiện hữu. Người bình thường thích hưởng thụ cuộc sống bởi vì họ không thấy những hiểm họa của nó. Nếu biết được sự tan hoại không ngừng của nó chắc chắn người ấy sẽ trở nên chán ghét và mệt mỏi (nibbidāñāṇa, tuệ yểm ly hay nhàm chán). Tuệ này rất quan trọng. Trong nhiều bài kinh, sau khi chỉ ra ba dấu ấn của cuộc sống, Đức Phật thường thường nói, “Do thấy như vậy, bậc thánh đệ tử trở nên nhàm chán đối với sắc thân này” và rồi ngài tiếp tục nói, “Do nhàm chán, vị ấy ly tham và chứng đắc thánh đạo.” Chúng tôi cho rằng Đức Phật đã đồng nhất tuệ nhàm chán với tất cả các tuệ đi trước cũng như những tuệ đi sau nó.
Muccitukamyatāñāṇa và Các Tuệ Minh Sát Khác
Do nhàm chán kiếp sống, người hành thiền không muốn chấp thủ vào thân và tâm hay sự hiện hữu của mình nữa và lúc này ước muốn từ bỏ chúng (Muccitukamyatāñāṇa, tuệ dục thoát, hay mong muốn giải thoát) phát sanh. Để hoàn thành ước muốn của mình, vị ấy phải tiếp tục thực hành để đạt đến tuệ phản khán (paṭisaṅkhāñāṇa). Khi sự tập trung hay định phát triển, vị ấy có thể phớt lờ mọi hiện tượng phát sanh. Lúc này trong vị ấy chỉ còn sự hay biết đơn thuần về chúng (saṅkhārupekkha ñāṇa, tuệ hành xả) mà không cần có bất cứ sự cố gắng nào.
Ở giai đoạn này người hành thiền chỉ vận dụng nỗ lực lúc ban đầu. Sau đó không cần phải có bất cứ nỗ lực đặc biệt nào nữa. Trong vị ấy giờ đây chỉ có sự hay biết đơn thuần, vị ấy thấy rằng tất cả những gì sanh khởi đều nối tiếp theo nhau diệt mất. Vị ấy duy trì được trạng thái này trong hai hoặc ba giờ mà không cảm thấy bị chuột rút, nóng bức hay đau đớn gì cả. Oai nghi (tư thế ngồi,…) của vị ấy không thay đổi. Nếu vị ấy có bất cứ sự đau đớn hay bệnh tật của thân nào, lúc đó nó sẽ không xuất hiện. Một số chứng bệnh thậm chí còn biến mất. Với sự phát triển đầy đủ của tuệ này, tuệ thuận thứ (anupatilomañāṇa) và sau đó người hành thiền thấy Niết-Bàn ở mức thánh đạo và thánh quả.
Vì thế nếu bạn mong muốn thấy Niết-Bàn hay chứng Đạo Quả trong kiếp sống này bạn phải cố gắng để có được các tuệ minh sát bắt đầu với tuệ phân biệt danh sắc (nāmarūpaparicchedañāṇa) cho đến tuệ thuận thứ (anulomañāṇa). Để đạt đến mục đích này bạn phải quan sát tất cả mọi hiện tượng tâm-vật lý phát sanh từ sáu căn và thấy đúng như chúng thực sự là. Đối với những người không thực hành chánh niệm, mỗi đối tượng giác quan mà họ không biết đúng như thực có nghĩa là đã có sự ngủ ngầm của vô minh như một phiền não. Và khi những hoàn cảnh thuận lợi có mặt phiền não ngủ ngầm này sẽ tìm được một lối thoát ra. Những hạt giống của vô minh thường mang theo những hạt giống của tham và sân, và dưới một vài điều kiện, các trần cảnh được nhớ lại, những ngọn lửa tham và sân sẽ bùng lên như một hệ quả tất yếu. Vô minh, tham ái và sân hận làm phát sanh nghiệp xấu hoặc tốt, rồi đến lượt chúng những nghiệp này sẽ dẫn đến tái sanh cùng với già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não theo sau nó. Những ngọn lửa của cuộc sống này sẽ nuốt chửng những người không chánh niệm khi thấy, nghe, suy nghĩ,…. Vì thế Đức Phật nói trong Kinh Aditta: “con mắt đang bốc cháy, cảnh sắc đang bốc cháy,…”
Đối với người hành thiền chánh niệm trên mọi hiện tượng phát sanh từ sáu giác quan khi họ thấy, nghe,…, và có được những tuệ minh sát những ngọn lửa này sẽ bị dập tắt hoàn toàn. Vì thế chúng ta nên cố gắng đoạn trừ vô minh bằng trí tuệ chọc thủng vào bản chất thực của danh và sắc (hợp thể thân tâm).
Cố Chấp (Sandiṭṭhiparāmāsa)
Sandiṭṭhiparāmāsa nghĩa đen là tư duy sai lầm trên quan kiến của mình, tuy nhiên tùy theo ngữ cảnh mà nó còn có ý nghĩa khác, chẳng hạn ở đây, nó phải được hiểu là ādhānaggāha: chấp thủ và duppaṭinissagga: khó từ bỏ quan niệm của mình. Vì vậy nếu hợp ba chữ lại nó có nghĩa là cố chấp vào quan kiến của mình hay ngắn gọn: cố chấp. Theo Chú giải, Đức Phật đặc biệt đề cập đến loại cố chấp vào tà kiến này như một bất lợi cho nỗ lực tinh thần trên Đạo Lộ. Đức Phật nói: “Người khác tin rằng chỉ có tri kiến của họ là chánh kiến. Họ chấp chặt vào quan điểm của họ và khó lòng thay đổi nó. Nhưng chúng ta ở đây sẽ không bảo thủ và chấp chặt quan điểm của mình một cách mù quáng. Chúng ta sẵn sàng để từ bỏ nó trên cơ sở hợp lý. Chúng ta sẽ chấp nhận pháp hành nào giúp chúng ta đoạn giảm những phiền não.”
Chú giải mô tả sự cố chấp như một thái độ của tâm khiến một người chấp chặt vào quan điểm của mình xem nó là chánh kiến duy nhất. Họ sẽ không từ bỏ quan điểm ấy cho dù Đức Phật và các bậc giác ngộ khác có gắng để tranh luận với họ. Thái độ cố chấp này cũng được thấy trong cuộc sống hàng ngày nữa, tuy nhiên nó không đến nỗi nghiêm trọng, vì nó không đặt ra một sự đe dọa cho đời sống tâm linh. Chẳng hạn, có những quan niệm khá phổ biến về vị trí của quả đất, mặt trời, mặt trăng và những hành tinh khác mà các tác phẩm cổ điển đã mô tả. Những quan niệm này hoàn toàn trái ngược với những khám phá của khoa học hiện đại. Người xưa giải thích về rặng Hy-mã-lạp-sơn (Hymalayas) và năm con sông chính cũng không đúng với thực tế địa dư hiện nay. Tuy nhiên, sự cố chấp đối với những quan niệm này không làm tổn hại đến đời sống tâm linh vì chúng không liên quan đến việc thực hành giới, định và tuệ.
Chỉ có sự cố chấp liên quan đến việc thực hành Pháp là nghiêm trọng. Nó làm cho người ta mù quáng chấp chặt vào một quan kiến sai lầm nào đó. Nếu một người giáo điều đến độ không thể từ bỏ được niềm tin của mình vào tự ngã, vào sự hiện hữu liên tục (thường kiến) hay sự hủy diệt của nó sau khi chết (đoạn kiến), họ sẽ bị cản trở trong tiến bộ tâm linh của họ. Một trong những quan niệm sai lầm nhất là quan niệm bác bỏ nghiệp và các kiếp sống tương lai. Những người chấp chặt vào quan niệm này chắc chắn sẽ không tránh làm điều ác và nếu có, họ sẽ làm điều thiện với giá an vui và hạnh phúc của kẻ khác. Họ cũng sẽ không thực hành Pháp dẫn đến Đạo Quả và Niết Bàn. Một niềm tin sai lầm khác là không tin có Đức Phật và các vị A-la-hán, những người đã đạt đến trí tuệ phi thường ở đời.
Những người tin chắc vào tự ngã và sự bất diệt của nó quả quyết rằng tự ngã tồn tại vĩnh hằng; sau khi thân vật lý thô này tan hoại, nó sẽ di chuyển đến một thân khác và tiếp tục tồn tại ở đó. Họ không chấp nhận lời dạy của Đức Phật cho rằng danh sắc của hiện hữu mới phát sanh như kết quả của phiền não và nghiệp, rằng sự diệt của phiền não và nghiệp dẫn đến sự diệt của danh sắc và nó cũng có nghĩa là sự diệt hoàn toàn của khổ. Do sự tin tưởng này họ không đi theo Thánh Đạo cho đến tận cùng. Như vậy thường kiến là một chướng ngại cho sự tiến bộ tâm linh. Tuy nhiên, vì nó không phản bác nghiệp và quả của nghiệp, nó vẫn có thể cho người tin nó đạt đến thế giới của chư thiên. Trái lại, những người chủ trương sự hủy diệt hoàn toàn sau khi chết (đoạn kiến) không thể đạt đến cảnh giới chư thiên vì họ đã phản bác nhân quả hay quy luật của nghiệp. Tà kiến này của họ loại trừ sự khả dĩ của tái sanh như một vị chư thiên hay sự chứng đắc Thánh Đạo.
Chướng ngại khác cho tiến bộ tâm linh là giới cấm thủ (sīlabbatapāramāsa), tà kiến cho rằng một sự thực hành hay cách cư xử nào đó tự thân nó sẽ bảo đảm sự giải thoát khỏi cái khổ của luân hồi. Chính giới cấm thủ này tin rằng sự giải thoát hoàn toàn tùy thuộc vào việc sinh sống, ăn uống và ngủ nghỉ giống như những con vật. Việc tôn thờ những con vật cũng được xem là giới cấm thủ (sīlabbatapāramāsa), đối với việc tôn thờ mặt trời, mặt trăng, thần sông, thần biển, chư thiên, Phạm thiên,… cũng thế. Tóm lại, bất cứ việc thực hành nào không liên quan đến Tứ Thánh Đế hay Bát Thánh Đạo mà chỉ đòi hỏi thực hành giống như những con vật và tôn thờ chúng đều là giới cấm thủ (sīlabbatapāramāsa) và trông đợi vào nó như một cách để đoạn tận cái khổ của luân hồi cũng đều là giới cấm thủ.
Hầu hết những pháp hành ngoài Phật Giáo với ý định đưa đến đoạn tận khổ và hạnh phúc vĩnh hằng đều là giới cấm thủ (sīlabbatapāramāsa). Một số người tin rằng họ có thể tự tẩy sạch mọi bất tịnh nghiệp trong sông Hằng. Một số thậm chí còn nghĩ rằng việc thờ cúng chư thiên, Đế Thích (Sakka) hay Phạm Thiên sẽ bảo đảm cho họ được tái sanh lên thiên giới và hạnh phúc sau khi chết Một số chủ trương rằng hiến tế bò, dê, hay những con vật khác sẽ giải thoát cho họ khỏi những tội lỗi và được sống một cuộc sống an vui. Những pháp hành như vậy khác xa với nỗ lực chứng ngộ Tứ Thánh Đế hoặc trau dồi giới, định, tuệ, và vì thế nếu xem chúng là một cách để giải thoát thì đó là giới cấm thủ. Những người chấp chặt vào những việc thực hành này không đi theo Con Đường Bát Chánh và do đó cũng không bao giờ đạt đến Đạo Quả Trí được.
Tín ngưỡng tôn giáo luôn luôn đúng dưới mắt những tín đồ của nó nhưng từ quan điểm của những người không tin thì nó hoàn toàn sai. Tuy nhiên bạn không thể buộc tội một người là cố chấp nếu họ đi tìm chân lý mà không bị giáo điều. Ngày nay một số người không phải là Phật tử nòi hay dòng dõi nhưng đã để tâm nghiên cứu kinh sách Phật Giáo và sau khi hiểu ra có người đã cải sang đạo Phật. Một số người từ Châu Âu và Châu Mỹ sau khi đi đến Miến Điện hành thiền đã đạt được những kết quả nhất định. Họ có thể mô tả những tuệ minh sát mà họ kinh nghiệm được rất chính xác. Những người phương Tây này hoàn toàn không bị cố chấp.
Sự Cố Chấp Giữa Những Người Phật Tử
Sau Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ ba đã xuất hiện Bộ Kathāvatthu (Những Điểm Dị Biệt), một quyển sách thuộc Tạng Diệu Pháp ghi lại lời dạy của ngài Mahāmoggali-puttatissa. Nội dung cuốn sách liệt kê ra những tà kiến khác nhau thời bấy giờ. Trong số đó có những tà kiến liên quan đến pháp hành và như vậỵ đã tạo thành một chướng ngại cho tiến bộ tâm linh của người chấp chặt vào chúng. Tà kiến về tự ngã là một trường hợp điển hình. Ngày nay một số người tin rằng việc quán các hiện tượng tâm vật lý sanh khởi ở sáu giác quan và nhận ra bản chất vô thường, khổ, và vô ngã của chúng là điều không cần thiết. Một số nói rằng chỉ cần có kiến thức về Tứ Thánh Đế là đã có sự chứng ngộ về Chân Lý rồi. Một số chủ trương chỉ quán về Niết Bàn là bảo đảm có được trí tuệ minh sát đặc biệt. Một số tin rằng thiền định tự nó có thể làm cho một người đạt đến Đạo Quả dù vị ấy không nhận thức được tính chất sanh và diệt của danh sắc và ba đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của chúng.
Nếu những tà kiến này ăn rễ sâu đến độ người ta không thể từ bỏ được chúng, chúng sẽ làm phát sanh một sự cố chấp. Một số người khăng khăng cho rằng ngày nay không ai có thể đắc các tuệ minh sát bất chấp mọi nỗ lực hành thiền của họ. Những người hoài nghi như vậy tất nhiên sẽ không thực hành nên đạo quả đối với họ là điều bất khả. Một số còn chủ trương rằng sẽ là vô ích nếu hành thiền mà trước tiên không vượt qua thân kiến. Chúng tôi không chấp nhận quan niệm này. Vì, mặc dù những Phật tử Miến mong muốn hành thiền, họ có thể vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi thân kiến, nhưng họ chấp nhận lời dạy của Đức Phật rằng sự hiện hữu chỉ là danh và sắc, rằng chúng phải chịu vô thường, khổ và vô ngã. Họ không tỏ dấu hiệu gì về sự cố chấp vốn có thể ngăn cản nỗ lực tinh thần của họ. Trong tiến trình hành thiền khi họ chứng được tuệ phân biệt danh sắc, ngã kiến phổ thông bị loại trừ. Với sự xuất hiện lần lượt của các tuệ minh sát, càng lúc họ càng nhận ra tính mong manh của cuộc sống sâu sắc hơn cho đến cuối cùng họ loại trừ được ngã kiến bằng Thánh Đạo Trí.
Tỳ-Kheo Sāti Và Ngã Kiến
Nếu Ngã kiến ăn sâu trong bạn đến nỗi bạn không thể khắc phục được nó, nó có thể sẽ gây nguy hiểm cho đời sống tâm linh của bạn giống như trường hợp của vị tỳ-kheo Sāti thời Đức Phật này. Thời Đức Phật, một vị tỳ-kheo tên Sāti nghiên cứu rất kỹ về Túc Sanh truyện (chuyện tiền thân của Đức Phật) và đã kết luận rằng thức là tự ngã hay attā. Vị ấy đi đến kết luận này dựa trên việc nhận dạng được nhân vật chính trong các câu chuyện ấy là Đức Phật. Theo các câu chuyện ấy thì dù là Vua Mahājanaka, hay Rồng Chúa Bhuridatta, hay voi chúa Saddana hoặc Vua Vessantarā, cuối cùng thì cũng là Đức Phật. Chắc chắn thân vật lý của vua Mahājanaka hay bất kỳ vị Bồ Tát nào khác sẽ không chuyển sang kiếp sống của Đức Phật, các cảm thọ, các tưởng và hành nghiệp của họ trong các tiền kiếp cũng thế. Chỉ có thức của Mahājanaka,… là trở thành thức của Bồ Tát Thái Tử Siddhattha mà thôi, Thức ấy được thể hiện trong Đức Phật hiện tại. Lý luận theo cách này, vị ấy kết luận rằng chính thức đi từ kiếp này sang kiếp khác không phải chịu sự hủy diệt.
Quan niệm của Sāti được đề cập trong Kinh Ái Đoạn Tận (Mahātanhāsankhaya sutta) của Trung Bộ như sau: “Theo như tôi hiểu lời dạy của Đức Thế Tôn thì chính thức (viññāṇa) hiện hữu trong kiếp trước di chuyển từ kiếp này sang kiếp khác. Thức hiện tại không là gì khác ngoài thức của kiếp trước.”
Như vậy Tỳ Kheo Sāti đã đồng nhất thức với tự ngã và tin vào sự bất tử của nó. Các vị tỳ-kheo khác đã nói với vị ấy rằng đó không phải là những gì Đức Phật dạy; rằng tiến trình tâm của một cá nhân chỉ là một dòng tâm trôi chảy với những đơn vị tâm mới không ngừng thay thế cho những đơn vị tâm cũ; và chính do tiến trình (trôi chảy) liên tục này Đức Vua Mahājanaka (tiền thân của Đức Phật) được đồng nhất với Đức Phật mà thôi, chứ thức là vô thường, không phải thức cũ đi vào hiện hữu mới. Nhưng tỳ-kheo Sāti vẫn không từ bỏ quan niệm của mình. Vị ấy chấp chặt vào đó xem như lời dạy chính đáng của Đức Phật. Do không thể làm cho vị ấy tỉnh ngộ, các vị tỳ-kheo đã trình bày sự việc lên Đức Phật.
Đức Phật cho gọi Sāti đến để hỏi rõ sự thực. Sāti trình bày lại quan niệm của mình với Đức Phật và Đức Phật hỏi vị ấy quan niệm như thế nào về thức. Sāti trả lời, “Bạch Đức Thế Tôn, đó là cái tự ngã (attā) nói năng và cảm thọ. Tự ngã này tốt hay xấu tùy theo nghiệp thiện hay ác mà nó đã làm trong tiến trình hiện hữu của nó. Con xác nhận cái ngã ấy với thức.”
Đức Phật quở trách, “Này kẻ si mê kia! Ta đã từng dạy điều đó cho ai khi nào? Phải chăng bằng nhiều cách Ta đã nói về thức là do duyên sanh? Không có nhân duyên thức không sanh đó sao? Ông đã hiểu sai lời dạy của Ta và còn khiến cho những người khác công khai chỉ trích ta. Với quan niệm sai lầm này Ông đã tự hủy hoại bản thân mình và đem lại bất lợi cho ông lâu dài, ông có biết không?”
Rồi Đức Phật đã hỏi các vị tỳ-kheo xem với quan niệm như vậy Sāti có thể đạt đến bất kỳ một trí tuệ minh sát nào được không. Các vị tỳ-kheo trả lời, “Thưa không, bạch Đức Thế Tôn.” Đức Phật sau đó nhấn mạnh đến sự sanh khởi do duyên của thức với những ví dụ. “Này các Tỷ-kheo, do duyên nào lửa sanh và lửa ấy có tên tùy theo duyên ấy: duyên củi, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa củi. Duyên vỏ gỗ bào, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa vỏ bào. Duyên cỏ, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa cỏ. Duyên phân bò, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa phân bò. Duyên trấu, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa trấu. Duyên đống rác, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa đống rác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên, thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên và tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh, và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức.” Như vậy Đức Phật đã giải thích tự thân mỗi đơn vị tâm sanh lên khác biệt nhau và riêng biệt nhau như thế nào rồi nó diệt và được thay thế bằng một đơn vị tâm mới ra sao. Dù được Đức Phật giải thích tận tường như vậy, Sāti cũng không từ bỏ tà kiến của mình và đã bỏ lỡ Thánh Đạo do sự cố chấp của vị ấy.
Tỳ Kheo Ariṭṭha
Một vị khác không những dính mắc thái quá vào tà kiến về tự ngã mà còn chấp chặt vào các tà kiến khác nữa. Thời Đức Phật có một vị tỳ-kheo tên là Ariṭṭha. Ông không phải là một người dốt như Sāti. Trái lại ông là người học rộng và chính do kiến thức quảng bác này mà ông đã có khuynh hướng chỉ trích giáo lý của Đức Phật. Ông lý luận như vầy: “Các tục gia đệ tử của Đức Phật vẫn sống một đời sống gia đình. Họ không tránh các dục lạc. Nhưng thỉnh thoảng họ đi nghe Pháp, suy tư trên Pháp và thực hành Pháp, một số đã đạt đến ba thánh Đạo đầu (nghĩa là có số đã đắc Nhập Lưu, Nhất Lai, và thậm chí Bất Lai). Cũng vậy, các vị Tỳ-kheo có thể thích thú trong những màu y khả ái của họ, nghe những tiếng hay, ăn những món ăn ngon,…Nếu họ có thể thọ hưởng ngũ dục được như vậy thì có lý nào họ không được đắm chìm trong sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm,… của phụ nữ. Trong những phân tích cùng tột, sắc của người nữ không khác với sắc của một tấm y, cũng vậy, về cơ bản, sự xúc chạm bằng thân với người nữ không khác với cảm giác xúc chạm do giường hay y áo tạo ra.” Lý luận theo cách này vị ấy khăng khăng cho rằng việc thọ hưởng các dục lạc đối với vị Tỳ-kheo là thích hợp. Nói cách khác, vị ấy thách thức Giới Luật đến mức tuyên bố rằng: “việc trục xuất một vị tỳ kheo phạm tội hành dâm với một người nữ là không hợp lý vì không có lý lẽ biện minh.”
Lý luận của Ariṭṭha có vẻ hơi giống lý luận của một số triết gia thời nay cho rằng việc uống rượu cũng giống như người ta uống nước vậy thôi, đó là điều thích hợp vì cả hai đều được tạo thành từ yếu tố nước (āpodhātu). Nó cũng giống như sự lý luận của những người khăng khăng cho rằng một người ý thức đầy đủ về thực tại của các nguyên tố và không có sự dính mắc vào sự thực chế định cũng như khái niệm sẽ không cần phải day dứt về chuyện giết một con gà hơn cắt một trái bầu vì cả hai đều được làm từ cùng những nguyên tố vật chất. Những kẻ ngụy biện như vậy quả thực đáng kinh sợ. Nó xuất phát từ sự quá độ của tư duy độc lập và những người nương nhờ vào những vị thầy này chắc chắn sẽ gặp thảm họa về đạo đức.
Các vị Tỳ-kheo khác phản đối kịch liệt quan niệm của Ariṭṭha, nhưng vô ích. Ariṭṭha vẫn cố chấp vào quan điểm của mình và vì thế các vị phải trình báo sự việc lên Đức Phật. Đức Phật cho gọi Ariṭṭha đến và nói, “Ta đã dạy điều như thế cho ai khi nào? Phải chăng ta thường nói rằng bất cứ một hành động dâm dục nào được thực hiện bởi một vị Tỳ-kheo cũng là một chướng ngại trên Thánh Đạo cho vị ấy, rằng các dục có khuynh hướng làm tổn hại nhiều hơn là an vui, rằng chúng cũng giống như một khúc xương khô mà con chó đói cố sức gặm hay như một miếng thịt là nguyên nhân tranh giành giữa những con kên kên đó sao? Không những ông đã hiểu sai lời dạy của ta mà còn làm mất uy tín ta dưới mắt mọi người. Hơn thế nữa, ông đã tự bứng gốc và làm cho mình mất tất cả sự hỗ trợ.” Tuy nhiên, bất chấp sự bác bỏ của Đức Phật về quan điểm của mình, Ariṭṭha vẫn chấp chặt vào nó và không thực hiện được một tiến bộ tâm linh nào do sự cố chấp ấy.
source https://theravada.vn/phan-23-giang-giai-kinh-doan-giam/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét