Phần 24
- Những Quan Niệm Sai Lầm Thời Nay
- Sự Cố Chấp Của Sunakkhata
- Thiền Định Và Sự Thanh Tịnh Tâm
- Sự Cố Chấp Của Một Du Sĩ Ngoại Đạo
Những Quan Niệm Sai Lầm Thời Nay
Ngày nay có rất nhiều những nhận thức sai lầm về pháp. Có lần một người phụ nữ nọ nói rằng sách của tôi (tức ngài Mahāsi) có một lỗi. Trong cuốn sách ấy tôi cố làm sáng tỏ một điều rằng với sự phát triển của tuệ sanh diệt (udayabbayañāṇa) hỷ duyệt (pītipāmojja) sẽ phát sanh, rằng mặc dù hỷ duyệt này không phải là Niết Bàn bất tử, song đối với vị hành giả đắc tuệ sanh diệt thì nó thực sự là Niết Bàn vì những hành giả này chắc chắn sẽ chứng đắc Niết Bàn nếu họ tiếp tục thực hành thiền minh sát. Lời tuyên bố của tôi hoàn toàn phù hợp với Dhammapada (Pháp Cú Kinh) và sự giải thích của chú giải về bài kệ nói rằng: “Amataṁ taṁ vijānataṁ” – Hỷ duyệt là Niết Bàn Bất Tử của người hành thiền đã đạt đến trí tuệ thấy được sự sanh và diệt của danh và sắc.” Tuy thế, tôi vẫn bị người ta buộc tội là đã xem hỷ duyệt đồng nghĩa với Niết Bàn. Sau này khi vị thiền sư thầy của cô ta chỉ ra cho thấy bài viết của tôi phù hợp Kinh Tạng Pāḷi và các bản chú giải như thế nào cô ta đã thừa nhận lỗi lầm của mình. May thay cô không có thái độ cố chấp giống như Sāti và Ariṭṭha.
Một người phụ nữ khác đã chỉ trích phương pháp thiền tôi giới thiệu ở một trong những cuốn sách của tôi mà cô thấy là không thể chấp nhận được. Cô cho rằng “định (samādhi) chỉ khả dĩ nếu sự chú tâm được tập trung vào một đối tượng duy nhất,” rằng “việc chú tâm ghi nhận bất cứ điều gì người ta thấy, nghe,…có nghĩa là (tâm) trạo cử (uddhacca)”. Vì thế cô đã đặt câu hỏi là nếu một hành giả sau khi xuất thiền (định) rồi sử dụng chánh niệm để ghi nhận mọi hiện tượng phát sanh từ các giác quan thì điều đó chẳng phải đã làm suy yếu định hay sao. Thực sự lời tuyên bố của tôi hoàn toàn dựa trên những diễn giải của bài Kinh Song Tầm (Dvedhāvitakka sutta) được ghi chép trong chú giải Trung Bộ Kinh. Tuy nhiên vì cuốn sách của tôi chỉ là một khảo luận ngắn về những pháp môn thiền, nên tôi đã không tiện dẫn chứng kinh điển Pāḷi trong đó.
Có hai loại định, đó là, định của thiền chỉ (samātha samādhi)và định của thiền minh sát (vipassanā samādhi). Trong hai loại ấy, định của thiền chỉ đòi hỏi tâm phải giới hạn vào một đối tượng duy nhất. Nếu pháp hành thiền định này liên quan quan đến bài tập Kasiṇa, người hành thiền phải tập trung tâm trên một đối tượng duy nhất, chẳng hạn, trên biến xứ đất (vòng tròn làm bằng đất sét) để phát triển cận định (upacāra samādhi) hay an chỉ định (appanā samādhi). Nếu quán bất tịnh thì tâm cũng phải được tập trung trên một đối tượng duy nhất, như một xác chết chẳng hạn. Khi ba mươi hai thể trược là đối tượng của sự tập trung, lúc ban đầu người hành thiền phải tập trung trên cả ba mươi hai thân phần. Chỉ ở giai đoạn sau vị ấy mới tập trung trên những thân phần nổi bật và bỏ qua những phần không rõ. Cuối cùng, vị ấy giới hạn sự chú tâm của mình vào một thân phần duy nhất để đạt đến hai loại định (cận định và an chỉ định). Vì thế chắc chắn một điều rằng người ta có thể tu tập định của thiền chỉ chỉ bằng cách chú tâm đến một đối tượng duy nhất.
Nhưng đối với định của minh sát thì không thể nói như thế. Có thể có trường hợp một số hành giả với trí tuệ nhạy bén vẫn đạt đến đạo quả sau một lúc chánh niệm về một đối tượng duy nhất. Nhưng có lẽ những hành giả như vậy rất hiếm. Vì trong thiền minh sát quý vị phải quán ít nhất hai hiện tượng, đó là danh và sắc. Như Đức Phật nói: “Sabbaṁ abhiññeyyaṁ”, nghĩa là người hành thiền phải quan sát tất cả mọi hiện tượng đang sanh khởi từ các cửa giác quan. Vì thế, một chỉ thừa hành giả có thể nhập vào một bậc thiền nào đó mà mình đã chứng, sau khi xuất thiền vị ấy quan sát trạng thái thiền ấy, rồi lại nhập vào thiền và xuất như trước để quan sát trạng thái thiền ấy. Nhờ thực hành thiền định và thiền minh sát luân phiên như vậy vị ấy có thể đạt đến Đạo Quả.
Hoặc vị ấy có thể nhập thiền, xuất thiền và quan sát các hiện tượng sanh khởi từ sáu căn. Khi thân và tâm mệt mỏi vị ấy sẽ nhập thiền trở lại. Khi xuất khỏi thiền, vị ấy quan sát mọi thứ đang sanh khởi. Lập đi lập lại tiến trình này nhiều lần, đó là, nhập thiền, xuất thiền, rồi thực hành chánh niệm trên các hiện tượng đang sanh khởi, vị ấy phát triển trí tuệ minh sát và đạt đến Đạo Quả. Cách quán này được mô tả trong chú giải Kinh Song Tầm như sau:
“Như vậy Đức Phật đã mô tả tiến trình hành minh sát có thiền định làm duyên khi còn là Bồ Tát. Cả thiền định và thiền minh sát của vị ấy có thể ở trong tình trạng phôi thai. Thực hành minh sát, vị ấy phải ngồi lâu và cảm thấy mệt. Có khi vị ấy cảm thấy nóng trong thân, đổ mồ hôi và trán vị ấy dường như toát ra chất hơi và khí. Tâm vị ấy cũng mệt mỏi. Người hành thiền lúc đó nên nhập vào thiền trở lại và sau khi đã làm dịu cơn mệt mỏi của thân và tâm, vị ấy cảm thấy thoải mái và tiếp tục thực hành minh sát. Sau một lúc nếu mệt nữa, vị ấy sẽ lập lại như trước. Như vậy an trú trong thiền có lợi ích rất lớn đối với việc thực hành minh sát.”
Đây là cách quán các hiện tượng đáng quán, sau khi xuất khỏi thiền. Nếu thực hành thiền minh sát bạn nên bắt đầu với những sắc rõ, đặc biệt là với sắc tứ đại. Rồi bạn phải quán bản chất của thọ và tâm. Từ những gì Đức Phật dạy trong Ưng Bộ Kinh (“Người hành thiền tuệ tri con mắt là vô thường, cảnh sắc là vô thường, và cái thấy là vô thường,…”) điều này có nghĩa là vào lúc thấy, nghe,… người hành thiền phải chú ý đến các hiện tượng khác nhau chứ không chỉ một. Hơn nữa, Thanh Tịnh Đạo và các bản chú giải khác còn cho chúng ta biết người hành thiền đạt đến đạo quả bằng cách quán không phải (tâm) thiền mà các hiện tượng rõ ràng vào lúc ấy như thế nào. Trong cuốn sách của tôi tôi đã mô tả việc thực hành minh sát sau thiền theo các bản chú giải Pāḷi. Chắc chắn nếu một người có chút kiến thức về kinh điển Pāḷi và nắm bắt được một chút gì đó về thiền minh sát sẽ không có gì khó hiểu.
Định phát sanh trong lúc một người quán các hiện tượng khác nhau này được gọi là sát-na định (khanika samādhi), loại định chỉ kéo dài thoáng chốc trong khi quán. Không có tuệ minh sát nào là khả dĩ nếu không có định này. Người hành thiền không có kinh nghiệm thiền định căn bản và chỉ dựa vào một mình minh sát quán sẽ phát triển trí tuệ minh sát qua sát na định và đạt đến Thánh Đạo. Định của minh sát này không giới hạn vào một đối tượng duy nhất. Người hành thiền đang hành minh sát phải quán tất cả danh sắc phát sanh. Tất nhiên vào sát na quan sát, tâm vị ấy được gắn chặt trên đối tượng và không bị phân tán. Điều này rất rõ ràng đối với người hành thiền một cách hiệu quả.
Có lẽ người viết bài chỉ trích cuốn sách của tôi đã không hiểu về sát na định minh sát (vipassanā khanika samādhi) một cách thấu đáo qua sách vở hay kinh nghiệm tự thân. Nếu người ấy vẫn chấp chặt vào quan điểm của mình, tôi nghĩ chính thái độ cố chấp này sẽ ngăn cản nỗ lực tinh thần của người ấy.
Sự Cố Chấp Của Sunakkhata
Thời Đức Phật có một vị Tỳ-kheo dòng Licchavi tên là Sunakkhata. Vị này có thời gian làm thị giả cho Đức Phật. Nhờ thực hành thiền định vị ấy đắc tứ thiền và có thiên nhãn thông. Sau đó vị ấy hỏi Đức Phật xem vị ấy nên làm gì để đắc thiên nhĩ thông (dibba-sota). Do thấy có một chướng ngại cho việc chứng đắc thiên nhãn thông của vị ấy nên Đức Phật từ chối. Vị ấy nghi ngờ Đức Phật không tiết lộ bí mật vì ngài không muốn cho ai có nhiều thần thông như ngài. Sự nghi ngờ này đã làm suy thoái đức tin của Sunakkhatta nơi Đức Phật. Hơn nữa do không thực hành minh sát vị ấy không có một niềm tin vững chắc. Và do có những tố chất ác trong tiền kiếp vị ấy khuynh hướng về những ác pháp.
Vì thế một ngày kia vị ấy cảm thấy rất thoả thích khi thấy du sĩ ngoại đạo Korakhattiya sống trần truồng và hành vi cư xử giống như một con chó. Vị ấy nghĩ, “Korakhattiya này mới đích thực là một bậc Thánh. Ông ăn giống như chó, không cần cầm thức ăn bằng tay. Ông ấy là một bậc A-la-hán không còn phiền não đích thực đây,” vị ấy tôn sùng lõa thể ngoại đạo này như vậy. Nhưng Đức Phật đoán biết được ý nghĩ của vị ấy và nói, “Thật lạ thay một người như ông lại tuyên bố là đệ tử của ta.” Đức Phật tiếp tục tiên đoán số phận của đạo sĩ lõa thể. “Bảy ngày nữa, Korakhattiya này sẽ chết vì bội thực.” Y sẽ tái sanh làm một “asura” (a-tu-la, một phi nhân ác). Xác của y sẽ bị vất bỏ trong nghĩa địa. Nếu ông đi đến đó và hỏi cái xác ấy, nó sẽ đứng dậy và nói cho ông biết về sự tái sanh của nó trong cõi A-tu-la cho ông coi.’’
Sunakkhatta mong muốn buộc tội Đức Phật là người nói dối và ông đã rồ dại làm hết sức mình để khiến cho lời tiên đoán của Đức Phật không xảy ra. Tuy nhiên, sau đó ông phải thừa nhận rằng mọi thứ đã xảy ra đúng theo tiên đoán của Đức Phật. Mặc dù vậy ông vẫn không có nhiều đức tin lắm nơi ngài mà vẫn tiếp tục chấp vào những pháp hành lầm lạc. Do sự cố chấp này ông đã từ bỏ Tăng Đoàn và phủ nhận Đức Phật có tri kiến thù thắng siêu nhiên. Vì lẽ ông không thực hành thiền minh sát và đắc Đạo Quả nên ông không thể từ bỏ quan kiến sai lầm của mình và vẫn khuynh hướng về những ác ý với sự cố chấp ấy.
Ngày nay trong số những người đến đây thực hành cũng có thể có đôi người giống như Sunakkhatta. Người như vậy chúng ta có thể nói rằng không phải do đức tin thúc đẩy họ đến đây mà do những động cơ khác. Họ không thực hành nghiêm túc vì thế không có được một kinh nghiệm phi thường nào. Về định họ còn không phát triển đầy đủ, nói gì đến minh sát. Họ có khuynh hướng xem thường thiền, tuy nói rằng họ đã hành rất nhiều nhưng chẳng kinh nghiệm được điều gì kỳ đặc cả. Đã vậy họ lại chấp vào những tà kiến và bao lâu họ còn bị nhận chìm trong sự cố chấp, họ vẫn sẽ làm những điều ác và gây nguy hiểm cho đời sống tâm linh của những người đặt niềm tin vào họ.
Thiền Định Và Sự Thanh Tịnh Tâm
Có quan niệm cho rằng chỉ có an chỉ định hay định của bậc thiền mới làm cho tâm của một người thanh tịnh. Ở Miến Điện quan niệm này không thịnh hành lắm vì các bản chú giải đã tuyên bố rõ rằng sự thanh tịnh tâm còn được dựa vào cận định (upacāra samādhi). Hơn nữa, chú giải Kinh Đại Niệm Xứ nói đến 19 phần trong quán thân kể cả niệm hơi thở vô-ra,…như những đề mục luyện tập tâm dẫn đến cận định. Vả lại, theo Thanh Tịnh Đạo, trong số bốn mươi đề mục tu tập tâm có một đề mục Phân Tích Tứ Đại (catudhātuvavaṭṭhāna) là đề mục tác ý các giới (dhātumanasikāra kammaṭṭhāna) của Kinh Đại Niệm Xứ, và người hành thiền thực hành thuần quán sẽ bắt đầu với việc quán 18 giới (dhātu), 12 xứ (āyatana), năm uẩn (khandha) và danh sắc (nāma-rūpa).
Ở đây rõ ràng người hành thiền có thể đạt đến cận định bằng cách quán tứ đại, và cận định với sát-na định minh sát là như nhau trong nghĩa vượt qua các triền cái. Cận định hay sát-na định này dẫn đến sự thanh tịnh tâm cũng như năm loại tuệ (paññā) và sự thanh tịnh của tri kiến (kiến tịnh). Điều này đã được nói rõ trong các thư tịch cổ và sự thanh tịnh hoàn toàn của tâm và kiến này phát sanh do kinh nghiệm của người hành thiền thực hành một cách nghiêm túc theo phương pháp Tứ Niệm Xứ. Theo sự hiểu biết của chúng tôi con số những hành giả có được kinh nghiệm như vậy lên đến hàng ngàn người. Do đó, cận định hay sát na định minh sát bảo đảm sự thanh tịnh tâm là điều không có gì phải hoài nghi. Những ai tin chắc rằng chỉ có thực hành thiền định mới đưa đến sự thanh tịnh tâm sẽ thấy nỗ lực tu tập của họ là vô ích nếu họ không thể đắc thiền và có những hoài nghi về định của minh sát. Một quan niệm cực đoan như vậy sẽ là một chướng ngại cho thiền minh sát và mọi người cần phải tránh.
Sự Cố Chấp Của Một Đạo Sư Ngoại Đạo
Sau khi đắc nhập lưu do nghe bài kệ của Trưởng Lão Assaji, hai du sĩ ngoại đạo Upatissa và Kolika, người mà sau này trở thành Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đã quyết định đi đến với Đức Phật. Họ mời thầy của họ là Sañjaya cùng đi nhưng ông này từ chối. Sañjaya nói rằng lâu nay ông đã là đạo sư của một bộ phái nên việc trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama sẽ là không thích hợp cho ông. Khi được nghe nói rằng mọi người sẽ bỏ ông để đi theo Đức Phật, ông trả lời ông không lo chuyện đó vì những người ngu tạo thành số đông của nhân loại sẽ đến với ông. Đây là trường hợp cố chấp vì lợi dưỡng, danh vọng.
Do đó chúng ta nên tránh sự dính mắc thái quá vào những tà kiến đi ngược lại với sự giác ngộ chánh Pháp. Một số người tin chắc rằng cả đời họ chẳng thiếu thốn gì và vì thế họ không biết tận dụng cơ hội để hành thiền và điều này có nghĩa là về phương diện tâm linh họ phải chịu một sự tổn thất rất lớn. Trong cuộc sống đời thường cũng vậy chúng ta không nên cố chấp vào những điều không hợp lý. Chúng ta nên suy nghĩ kỹ trước khi tin hay chấp nhận một quan điểm nào và nếu cần thiết hãy sẵn sàng thay đổi hoặc vứt bỏ quan kiến của chúng ta. Tất nhiên một người bảo thủ thường không dễ từ bỏ quan điểm của mình bất chấp những lời dạy hợp lý của các bậc hiền thánh giống như Đức Phật và vì thế họ phải chịu khổ đau trong kiếp này cũng như các kiếp sau.
Trong đời sống hàng ngày sự cố chấp vào một quan niệm nào cũng là một sự bất lợi cho an vui và hạnh phúc của chúng ta. Ở mức thấp nhất, một người phủ nhận những gì người khác đã trải qua sẽ bị quở trách là người bảo thủ. Tuy nhiên sự cố chấp trong cuộc sống đời thường này không làm tổn hại đến đời sống tâm linh trong khi sự cố chấp trong đời sống tôn giáo có thể làm tổn hại đến những cơ hội tái sanh thiên giới hay chứng đắc tinh thần của một người. Vì thế chúng ta nên suy xét một cách hợp lý trên những gì các bậc hiền trí và những học giả đa văn đnói và sẵn sàng từ bỏ những quan niệm cũ nhưng sai lầm của mình thay vì cố chấp một cách mù quáng vào chúng.
Từ trước đến đây tôi đã giải thích đầy đủ tất cả những phiền não mà Đức Phật liệt kê trong bài Kinh Đoạn Giảm (Sallekha). Đức Phật đã kết luận bài kinh bằng cách khích lệ các vị đệ tử hãy đi vào hành thiền dưới một gốc cây hay bất kỳ một nơi thanh vắng nào khác. Theo chú giải chúng ta nên quán ba mươi tám loại đề mục luyện tâm để phát triển định và quán tính chất vô thường, khổ và vô ngã của danh sắc cũng như năm uẩn, mười hai xứ,…để phát triển trí tuệ minh sát. Tóm lại, chúng ta nên thực hành cả thiền chỉ lẫn thiền minh sát.
Như vậy, chính Đức Phật đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải thực hành thiền định, vì thế chúng ta không nên xem nhẹ nó. Các bậc A-la-hán thuở xưa đều thực hành minh sát trên căn bản thiền định. Nhưng phải nhớ rằng quán năm uẩn,…là thiền minh sát chứ không phải thiền định. Tuy nhiên sẽ không đúng khi nói rằng quán tứ oai nghi,…như Kinh Đại Niệm Xứ đề nghị là thực hành thiền định. Trong thực tế, quán bản chất (vô thường, khổ, vô ngã) của danh sắc khác biệt với 40 đề mục thiền định và là thuần quán.
Kết thúc bài kinh Đức Phật thúc giục các vị Tỳ-kheo thực hành thiền quán dưới một gốc cây hay một nơi yên tĩnh nào đó. Điều này cho thấy Đức Phật đã đưa ra những hướng dẫn đầy đủ cho việc thắng phục các phiền não. Việc có đi theo và thực hành đúng như lời Đức Phật chỉ dẫn hay không hoàn toàn tuỳ thuộc vào người đệ tử. Chúng ta không nên quên những gì chúng ta phải làm cho sự giải thoát tinh thần của chúng ta. Bằng không, khi đã quá trễ, chúng ta sẽ cảm thấy đau khổ và dằn vặt do hối tiếc (vì đã không nghe theo lời dạy của Đức Phật vậy).
Dịch Xong Tại Viên Không Cuối Hạ 2013
source https://theravada.vn/phan-24-giang-giai-kinh-doan-giam/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét