Lời Tựa
Quyển kinh này bần tăng trích lục trong Đại tạng Mahāvāra vagga luôn cả chú giải của bộ kinh Saṃyutta nikāyavā và Abhidhamma saṅgaha, để cung hiến cho ai có chí muốn sưu tầm chân lý đặng tu hành cho mau đạt đạo quả Niết-bàn.
Nếu cố gắng thực hành theo cho đúng phương pháp chỉ dẫn trong kinh thì sẽ đạt mục đích giải thoát chẳng sai.
Thấy quyển kinh này rất quí báu nên nhà sư dầu tài hèn học kém cũng cố gắng phiên dịch ra Việt ngữ để cung cấp thêm cho các hàng Phật tử vài phần tài liệu về Phật giáo.
Năm 1939, lúc còn cư sĩ, tôi đã có thiện ý phiên dịch một lần rồi, nhưng từ khi xuất gia mãng lo hành đạo nơi lâm sơn, nên ít lưu ý trông nom, khi tìm lại thì bổn cũ ấy đã thất lạc nơi nào thành thử phải phiên dịch lại một lần nữa.
Vậy xin chư Đại đức Tăng và các bậc thiện trí thức nếu thấy có khuyết điểm nào hãy hoan hỷ chỉ dạy thêm, hầu sửa chữa lại kỹ càng, sau này khi có tái bản sẽ được hoàn hảo, thì ân ấy rất cao thâm.
Với tấm lòng thành thật.
Đại đức Bửu Chơn.
Namatthu ratanattayassa – Tôi xin tôn kính làm lễ Tam bảo.
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa – Tôi xin thành kính làm lễ Đức Bhagava, ngài là bậc A-la-hán cao thượng, đã được đắc quả Chánh Biến Tri, tam diệu tam bồ đề (Sammāsambuddha).
Trước khi giảng giải về Pháp xa, xin tôn kính làm lễ Tam bảo như bài kệ sau đây:
Lokassa nāthaṃ varamuttahāhaṃ
Buddhañca dhammaṃ pana māmisaṅghaṃ
Nibbāna niyyānikadhamma yānaṃ
Desemisuttaṃ parisāya atthaṃ.
Nghĩa: Tôi xin nghiêm thân, khẩu, ý trong sạch làm lễ Đức Phật, đức Pháp, đức Tăng là ba ngôi nương nhờ rất cao thượng của chúng sanh trong cõi thế gian, và xin thành kính giảng giải về ‘Pháp xa’ là pháp chỉ dẫn chúng sanh thực hành theo cho đến nơi Niết-bàn an vui bất sanh bất diệt.
—
Giải Về Pháp Xa
Tiếng nói ‘Pháp xa’ nghĩa là ‘Cái xe pháp’ ngụ ý pháp Phật như cái xe để đưa chúng sanh đến bờ kia là Niết-bàn.
Nguyên nhân Đức Phật giảng về pháp xa này là: Một thuở nọ, Ngài ngự nơi “Bố kim tự” của ông Cấp Cô Độc trưởng giả gần thành Xá Vệ (Sāvatthi).
Trong lúc ấy, nhằm buổi sáng, Đại đức Ānanda mặc y, mang bát vào thành Xá Vệ để khất thực (xin ăn) bèn gặp vị Bà-la-môn tên là Jānussoṇi đi trên một cái xe thắng bằng bốn con ngựa bạch, bắt kế toàn đồ bằng bạc, thùng xe cũng bằng bạc có cẩn ngà, khảm trải xe màu trắng, dây cương bằng bạc có cẩn ngọc trắng, roi cũng bằng bạc, vị Bà-la-môn ấy lại mặc toàn đồ trắng, đội mão, mang giầy, che lọng, cầm quạt cũng toàn màu trắng. Thường lệ trong sáu tháng ông đi vòng vòng trong châu thành một lần.
Ít hôm trước, khi ông ra đi thì đã có tin đồn rằng “Còn mấy ngày nữa thì ông Jānussoṇi sẽ đi dạo châu thành, dân chúng đều rủ nhau sửa soạn quét dọn đường sá cho bằng thẳng, đổ cát cho sạch sẽ và treo cờ có hàng ngũ theo hai bên đường chờ cho xe ông đi ngang qua đặng có dịp xem những của cải quí báu của ông.
Đúng ngày nhất định thì Jānussoṇi ăn mặc trang hoàng như đã kể trên, lên xe đánh ra châu thành cùng những người tùy tùng của ông cũng mặc toàn màu trắng theo hộ vệ ông.
Khi xe đi qua các con đường đều có dân chúng xôn xao đón xem dày đặc. Khi họ thấy xe tốt đẹp lộng lẫy như thế thì xúm nhau khen rằng “Brahmaṃ vata bho yānaṃ, brahma yānaṃ rūpaṃ vata bho – Này các người ơi! Xe này quí báu quá, xe này giống như xe của Trời Phạm Thiên”.
Sau khi Đại đức Ānanda khất thực về độ xong, đến chiều vào đảnh lễ Đức Thế Tôn bèn bạch đủ mọi điều về cái xe của vị bà-la-môn mà mình đã thấy. Lại bạch thêm rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Ngài có thể sắp đặt mà tạo ra một cái xe pháp, do nơi Giáo pháp của Ngài chăng?
Tùy lời hỏi, Đức Phật bèn trả lời rằng: Này Ānanda! Như Lai có thể tạo ra cái xe pháp giống như xe của Jānussoṇi được, xe pháp ấy chính là Bát chánh đạo vậy, Bát chánh đạo ấy cũng có thể gọi là Phạm xa (Bhahma yāna) hoặc là Pháp xa (Dhamma yāna) hay là chiến xa (Saṅgāma vijāna yāna). Này Ānanda! Phường dân chúng thấy xe của Bà-la-môn Jānussoṇi khen ngợi là quí báu giống như Phạm xa là chỉ đúng theo sự tốt đẹp của cái xe ấy thôi, chớ thật ra thì không đúng với lời khen ấy. Còn cái xe trong Giáo pháp của Như Lai mới thiệt là quí báu cao thượng mà các bậc thiện trí thức không thể nào chê bai biếm nhẻ được, vì các bậc thánh nhơn đều ngồi trên xe pháp ấy mà đi đến cõi vô sanh bất diệt Đại Niết-bàn, bởi cớ ấy nên Như Lai mới gọi là “Phạm xa” có năng lực chở chúng sanh thoát khỏi những điều tội lỗi (là tham, sân, si), gọi là “Pháp xa” vì xe ấy có thể đưa chúng sanh tới bờ kia là Niết-bàn, cũng gọi là “Chiến xa” vì có thể đương cự và phá tan quân địch là ái dục, phiền não, chắc chắn không sai.
Này Ānanda! Pháp xa hay là Bát chánh đạo ấy là thế nào? Bát chánh đạo ấy có 8 chi là:
- Chánh kiến (Sammādiṭṭhi) là trí tuệ thấy hiểu biết chân chánh trong bốn điều là: thấy 12 điều khổ não nhất là khổ sanh v.v…; thấy rõ 108 tâm ái dục (tanhā) là nguyên nhân để phát sanh sự khổ ấy; thấy rõ diệt tắt lòng ái dục là Niết-bàn là nơi diệt khổ; thấy rõ Bát chánh đạo là con đường thực hành theo để đi đến nơi diệt khổ. Này Ānanda! Thấy rõ bốn điều ấy gọi là chánh kiến vậy.
- Chánh tư duy (Sammā saṅkappa) là suy nghĩ chân chánh có ba điều là: suy nghĩ tìm phương thế để thoát khỏi ngũ trần và tình dục; suy nghĩ tìm phương thế để dứt bỏ lòng muốn hãm hại người khác; suy nghĩ tìm phương thế để dứt bỏ lòng thù oán hay là suy nghĩ về sự xuất gia, rải lòng bác ái (metta), rải lòng bi ai (karuṇā) cũng gọi là chánh tư duy.
- Chánh ngữ (Sammā vācā) là lời nói chân chánh có bốn điều là: không nói láo; không nói đâm thọc; không nói lời độc ác hung dữ (là chửi mắng người); không nói điều vô ích (như nói về sắc đẹp hay giặc giã v.v…) hay là khi nói ra nên dùng lời chân thật, đúng đắn, dịu ngọt, thanh bai, khi nói ra vừa rải lòng bác ái đến người nghe, nói ra có lợi ích cho mình và cho người.
- Chánh nghiệp (Sammā kamanta) là sự làm chân chánh có ba điều là: không sát sanh hại mạng; không trộm cắp của người gìn giữ; không tà dâm vợ, con người.
- Chánh mạng (Sammā ājiva) là sự nuôi mạng sống chân chánh có hai điều là: người thiện tín thì xa lánh năm nghề buôn bán là: bán rượu và chất say, bán khí giới, bán thuốc độc, bán thịt hoặc là nuôi thú để bán, bán người ta (là mua người đem đi bán cho làm tôi mọi); bậc xuất gia thì phải xa lánh năm pháp ác và hai mươi mốt cách tà mạng[1] và phải ráng trì bình khất thực để nuôi mạng sống.
- Chánh tinh tấn (Sammā vāyāma) là sự cố gắng có bốn điều là: phải ráng ngăn ngừa các pháp ác đừng cho phát sanh lên; phải ráng dứt bỏ các pháp ác đã có trong tâm cho tiêu hoại; phải ráng làm điều lành nào chưa từng làm; phải ráng gìn giữ pháp lành nào đã có trong tâm không cho hư hoại, nghĩa là phải thu thúc lục căn cho thanh tịnh, phải dứt bỏ ba tà tư duy, phải ráng hành theo bảy nhân sanh quả bồ đề và phải ráng gìn giữ pháp thiền định về tử thi mà mình đã đắc được.
- Chánh niệm (Sammā sati) là sự ghi nhớ, niệm chân chánh có bốn điều là: niệm thân; niệm thọ; niệm tâm; niệm pháp (cốt yếu niệm về tứ niệm xứ vậy).
- Chánh định (Sammā samādhi) là định tâm cho chân chánh có bốn điều là: định tâm trong sơ thiền; định tâm trong nhị thiền; định tâm trong tam thiền; định tâm trong tứ thiền[2].
Này Ānanda! Bát chánh đạo này mà ai đã thực hành thường rồi thì sẽ dứt bỏ được tam độc là tham, sân, si chẳng sai vậy.
Khi Đức Thế Tôn giảng xong, Ngài bèn đọc thêm một bài kệ rằng:
“Yassa saddhāca paññāca, dhammā yuggā saddhā dhūraṃ.
Hiritisā manoyottaṃ sati ārakkhā sārathi.
Ratho sīlaparikhāro jhānakkho cakkavīriyo.
Upekkā dhūra samādhi anicchā parivāraṇaṃ
Abyāpādo avihimsa vivekoyassa āvudhaṃ.
Titikkhā dhamma sannāho yogakkhemāya vattati.
Etadattanisambhūtaṃ dhammayānaṃ anuttaraṃ.
Niyyanti dhīrā lokamhā añña datthu jayam jayaṅti”.
Nghĩa là: “Cái xe thánh đạo này có đức tin liên lạc với trí tuệ, đức tin ví như cái ách. Hổ thẹn như cây gọng, tâm như dây cương, ghi nhớ như người đánh xe, giới như đồ trang sức trong xe, định như cây cốt xe, tinh tấn như bánh xe, xả như khúc cây chêm giữa cái ách và cái gọng đừng cho nghiêng qua nghiêng lại, không tham như dây cột cái ách vào cổ con thú”.
Về phần hành giả thì tâm không hãm hại, thù oán và có sự yên tịnh như khí giới, sự nhẫn nại như thiết giáp để thực hành mới đến nơi Niết-bàn được.
Pháp xa này mà bậc thiện trí thức nào đã có trong thân tâm rồi thì người ấy có thể thắng được quân địch là ái dục phiền não một cách dễ dàng và mới thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi được.
Tất cả mười bốn pháp trên đây là: đức tin, trí tuệ, hổ thẹn, tâm, ghi nhớ, giới, định, tinh tấn, xả, không tham, không hãm hại, không thù oán, yên tịnh và nhẫn nại đều là pháp sâu xa khó hiểu thấu cho chu đáo được.
Từ đây xin lần lượt giải ra tóm tắt từng pháp để cho các hàng Phật tử dễ bề học hỏi mà thực hành.
1. Phần đức tin (saddhā).
Trong “Pháp xa”, đức Chánh Biến Tri khởi đầu bằng đức tin có liên lạc với trí tuệ, ví như cái ách, vì đức tin có năng lực lôi kéo, dẫn dắt các pháp lành khác cho tinh tấn lên để thực hành theo ý muốn, cũng như cái ách có thể kéo toàn cả cái xe đi được vậy.
Hơn nữa, đức tin còn có nhiều năng lực biến chuyển ra nhiều trường hợp khác. Như nói về sức lực để chiến đấu với quân địch thì gọi là tín lực (saddhabala); nói về thuyền bè để đưa chúng sanh qua khỏi bốn vực thẳm (ogha)[3] thì gọi là tín thuyền (sadhānāvā); nói về dầu để dùng thoa tâm cứng rắn khó dạy cho trở nên mềm mại uốn cho ngay theo con đường thanh tịnh thì gọi là tín du (saddhā sincha); nói về của cải tài sản thì gọi là tín tài (saddhā dhana); nói về hột giống của pháp thiện gọi là tín chủng (saddhā bija); tất cả các thứ đức tin này thuộc về loại thiện tín (sobhana cetasika) đều tin theo lý nhân quả.
Đức tin này còn có hai thứ hoặc bốn thứ khác nữa là:
Chỗ nói hai thứ đức tin là phàm tín và thánh tín. Phàm tín (lokiya saddhā) là đức tin của bậc phàm nhơn. Vẫn tin nghiệp và quả, nhưng còn xao động vì tám pháp thế gian là lợi, thất lợi, danh, thất danh, quyền tước, mất quyền tước, vui, khổ; nếu được lợi, danh, quyền tước, an vui thì mừng rỡ, còn như thất lợi, thất danh, mất quyền tước, khổ sở thì trái lại buồn rầu, đức tin mà còn xao động vì tám pháp thế gian gọi là tin thụ động (passif) (calasaddhā). Còn tin ngoài lý nhân quả như tin hên xui hoặc tin theo tà ma quỉ mị thì gọi là mê tín, chớ không gọi là đức tin. Thánh tín (lokuttara saddhā) là đức tin của bậc thánh nhơn cũng tin theo lý nhân quả vậy, nhưng khi gặp tám pháp thế gian đưa đến thì không hề xao động gọi là tín điềm nhiên (acalasaddhā).
Chỗ nói đức tin có bốn thứ là: tín nghiệp (kamma saddhā) là tin sự hành vi của ta đây thế nào cũng trả quả chẳng sai, hoặc là tin rằng: thiện, ác, tội, phước, lợi hại, địa ngục, thiên đàng và đạo quả Niết-bàn đều có thiệt, các nghiệp ấy theo ta cũng như bóng tùy hình; tín quả (vipāka saddhā) là tin những quả vui, khổ hiện tại đây đều do duyên nghiệp trong kiếp này hay là những kiếp trong quá khứ trả quả, hoặc là tin nghiệp trắng sẽ cho quả trắng, nghiệp đen, sẽ cho quả đen, nghiệp cả trắng cả đen sẽ trả quả cả trắng lẫn đen, nghiệp không trắng không đen sẽ cho quả không trắng không đen (là A-la-hán quả), nghĩa là nghiệp thiện sẽ cho quả vui, nghiệp ác sẽ cho quả khổ, nghiệp cả thiện cả ác thì sẽ cho quả cả vui lẫn khổ, nghiệp các bậc A-la-hán thì không có quả trả; tín sản nghiệp (kammassakatā saddhā) là tín chúng sanh có cái nghiệp là của cải, là gia tài, là nơi sanh sản, là thân quyến, là nơi nương nhờ, nếu chúng sanh làm nghiệp nào thiện hay ác sẽ lãnh lấy gia tài là cái quả của nghiệp ấy chẳng sai; tín giác (tathāgata bodhisaddhā) như là tin sự giác ngộ của đức Như Lai rằng “Ngài là bậc Ứng Cúng (A-la-hán), Chánh Giác (Sammā sambuddho), Minh Hạnh Túc (Vijjācarana sampanno), Thiện Thệ (Sugato), Thế Gian Giải (Lokavidū), Vô Thượng Sĩ (Anuttaro), Điều Ngự Trượng Phu (Purisadamma sarathi), Thiên Nhơn Sư (Satthā devamanussānaṃ), Phật (Buddho), Thế Tôn (Bhagavā); hoặc là tin 37 giác môn pháp là tứ niệm xứ (satipatthāna), tứ chánh cần (samappadhana), tứ căn thông (iddhipāda), ngũ căn (indrīya), ngũ lực (pala), thất giác chi (bojjhaṅga), bát chánh đạo (atthaṅgi kāmagga) đều là những pháp thực hành theo để dắc vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Còn bốn thứ đức tin khác nữa là: Okappana saddhā – tin ân đức Tam bảo chắc chắn không lay chuyển; pasāda saddhā – tin rõ ràng có thể làm cho sự trong sạch phát sanh lên, làm cho sự tham lam và bỏn xẻn không thể nào làm nhơ bẩn tâm được; āgama saddhā – đức tin phấn khởi lên trong lúc được nghe đạo, cũng như đức Bồ-tát Sumedha khi nghe Đức Phật Nhiên Đăng (Dipaṅkara) thọ ký cho thì đức tin càng phát khởi lên tin chắc chắn về sự giác ngộ rồi lại càng dõng mãnh tinh tấn thực hành theo các pháp ba-la-mật cho đến khi đắc thành chánh giác; adhigama saddhā – là đức tin của các bậc thánh nhơn phát sanh lên một lượt khi đắc đạo quả Niết-bàn.
Đặc tính của đức tin có hai là: đặc tính trong sạch (sampasāda lakkhaṇa) có thể làm cho vui thích và ngăn cản năm pháp che án, lại làm cho tâm trong suốt để tránh khỏi các pháp nhơ bẩn cũng như bình lọc nước đem thọc xuống chỗ nước bùn dơ nhưng bình ấy có thể lọc rút lấy nước trong vào; đặc tính xu hướng (sampakkhanta lakkhaṇa) có thể làm cho tâm phấn chí lên, như hành giả vì nghe thấy các vị khác đắc các pháp cao nhơn hoặc là đạo quả bèn phấn khởi tâm lên hành đạo cho đắc được các pháp cao thượng mà mình chưa đắc, cũng như người thấy kẻ khác lội qua sông to nước đang chảy cuồn cuộn, rồi mình cũng ráng can đảm lội qua sông như người.
Người có đức tin chân chánh thường được danh lợi dồi dào như có câu kệ ngôn rằng: “Saddhā selena sampanno yaso bhogasamappito yaṃ yaṃ padesaṃ bhajati tatthatattheva pūjito”. Nghĩa là người có đức tin và giới hạnh đầy đủ thường được danh tiếng và của cải dồi dào. Như người ấy đi đến xứ nào thì sẽ có Chư Thiên và nhơn loại lễ bái cúng dường chẳng sai.
#phatgiaonguyenthuy
#phatgiao
#thiensu
#tinhtam
#theravada
Theo nguồn: https://theravada.vn/book/phap-xa-dhamma-yana-ty-khuu-buu-chon/https://theravada.vn/book/phap-xa-dhamma-yana-ty-khuu-buu-chon/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét