Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2020

Quả Báo Của Sa-môn (SĀMAÑÑAPHALA SUTTA) – Tỳ Khưu Bửu Chơn

…Nên chi dầu tài hèn học kém, bần tăng cũng ráng soạn trong Tam tạng Pāli, quyển thứ 14, trang 114, “Trường bộ – Dīghānikāya”, nói về “Quả báo của sa-môn (xuất gia) – Sāmaññaphala sutta”, cốt yếu gợi thêm ngọn đèn đạo hạnh để soi sáng cho ai là người có chí xuất gia tìm đường tu tập để giải thoát, khỏi phải lầm đường lạc lối theo các tà giáo.

Tiểu Tựa

Trong dịp lễ kỷ niệm ngày thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam (Theravāda), bần tăng thấy không chi quý báu hơn là soạn một quyển sách có đầy đủ ý nghĩa theo cuộc lễ. Nên chi dầu tài hèn học kém, bần tăng cũng ráng soạn trong Tam tạng Pāli, quyển thứ 14, trang 114, “Trường bộ – Dīghānikāya”, nói về “Quả báo của sa-môn (xuất gia) – Sāmaññaphala sutta”, cốt yếu gợi thêm ngọn đèn đạo hạnh để soi sáng cho ai là người có chí xuất gia tìm đường tu tập để giải thoát, khỏi phải lầm đường lạc lối theo các tà giáo.

Trong Kinh có nhiều đoạn phải lặp đi lặp lại để nhấn mạnh ý nghĩa nhưng bần tăng tùy tiện giảm bớt đi cho khỏi chán tai độc giả. Hơn nữa, những câu văn trong quyển kinh mô tả theo lối cổ điển của Ấn Độ nên khi nghe qua không mấy gì hạp với văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, những lý lẽ trong kinh, bần tăng vẫn giữ nguyên vẹn, chỉ phiên dịch xuôi thôi. Xin chư quý độc giả cố gắng nhẫn nại xem suốt từ đầu đến cuối thì mới nhận thức được chân lý của pháp.

Với sự ước mong rằng: “Do nhờ ánh sáng của bộ kinh này mà nhân sinh sẽ phát sanh nhiều chánh kiến”.

Do quả phước của sự phiên dịch quyển sách này, cầu xin sẽ đem lại nhiều điều hạnh phúc, an vui cho quốc gia, dân tộc Việt Nam cũng như luôn cả nhân loại khắp trên thế giới và cầu xin cho Phật giáo được thạnh hành đến 5000 năm.

Với tất cả sự mong mỏi,

Bhikkhu Nāga Thera – Tỳ khưu Bửu Chơn.

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambudhassa

 Tôi xin hết lòng thành kính làm lễ đến Đức Bhagavā, Ngài là bậc A-rá-hăn cao thượng,

được đắc quả Chánh biến tri (Tam diệu tam bồ đề).

Chương Thứ Nhất

Evamme suttam …

Ta có nghe như vầy:[1] Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại chùa Ambavana (vườn xoài) của ông Jīvaka Komāra Bhacca gần thành Rajagaha (Vương Xá) xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) cùng 1250 vị tỳ khưu câu hội nơi ấy.

Lúc bấy giờ, đức vua Ajatasattu (A-Xà-Thế) đang trị vì trong xứ Magadha. Một hôm, đêm rằm tháng mười, nhằm ngày lễ phát lộ là ngày cuối cùng của bốn tháng mùa mưa, đức vua đang ngự trong đền báu, có cả quan, quân chầu chực, khi ấy đức vua phán rằng: “Đêm nay trăng tỏ rạng rất tốt đẹp, đáng vui thú lắm, đáng nhìn xem, đáng trong sạch, vậy, ta nên hiểu biết cái chi trong đêm nay có ích lợi? Ta nên tìm đến người nào, hoặc sa-môn hoặc bà-la-môn nào, đến ngồi gần để phát tâm trong sạch được?”

Khi Ngài phán hỏi như thế thì có một vị quan quỳ xuống tâu rằng: “Tâu Đại vương, vị giáo chủ tên Puraṇa Kassapa là bậc có nhiều môn đệ, là thầy của một giáo phái, có nhiều thanh danh, có chủ nghĩa, nhiều người cho là bậc trí thức, là bậc đã có nhiều kinh nghiệm, tu thật lâu, bây giờ đã lão thành, vậy xin lịnh Hoàng thượng đến viếng vị ấy. Nếu Bệ hạ đến viếng Ngài thì chắc chắn thế nào cũng được thỏa mãn như ý muốn không sai”. Khi vị quan ấy tâu xong đức vua vẫn ngồi làm thinh yên lặng.

Kế tiếp có một vị quan khác lại quỳ xuống tâu rằng: “Tâu lịnh Đại vương, có vị giáo chủ tên Makkhali Gosāla là bậc có nhiều đồ đệ, là thầy của một giáo phái, có nhiều danh tiếng, có chủ nghĩa, nhiều người cho là bậc trí thức, là bậc đã từng trải, đã xuất gia thật lâu, bây giờ đã đến tuổi lão thành, vậy xin Bệ hạ đến viếng vị ấy. Nếu Bệ hạ đến viếng ngài thì chắc chắn thế nào cũng được thỏa mãn như ý muốn không sai”. Khi vị quan ấy tâu xong đức vua cũng vẫn làm thinh như trước.

Kế đó có một vị quan khác lại quỳ xuống tâu rằng: “Tâu lịnh Hoàng thượng, có vị giáo chủ tên Ajitakesa Kambala…[2], có vị giáo chủ tên Pakudha Kaccāyana…, có vị giáo chủ tên Sañjaya Velaṭṭhaputta…, có vị giáo chủ tên Nigaṇḍha Nāṭaputta…, là bậc có nhiều môn đệ, là thầy của một giáo phái, có nhiều danh tiếng, có chủ nghĩa, nhiều người cho là bậc trí thức, là bậc đã có nhiều sự kinh nghiệm, đã xuất gia thật lâu, bây giờ đã đến tuổi lão thành, vậy xin Bệ hạ đến viếng vị ấy. Nếu Bệ hạ đến viếng ngài thì chắc chắn thế nào cũng được thỏa mãn như ý muốn không sai”. Vị quan ấy tâu xong đức vua cũng vẫn làm thinh lặng lẽ.

Lúc đó, có ông Jīvaka Komāra Bhacca[3] cũng đang ngồi nơi ấy nhưng vẫn làm thinh, đức vua bèn phán hỏi rằng: “Ông Jīvaka tại sao lại làm thinh không nói lời chi cả?” Nhân câu hỏi ấy, ông mới thừa dịp mà tâu rằng: “Tâu lịnh Hoàng thượng, có Đức Phật là bậc Chánh Biến Tri, hiện nay đang ngự trong tịnh xá của hạ thần luôn cả 1250 vị tỳ khưu tăng. Đức Phật có nhiều thanh danh lừng lẫy như thế này: Ngài là bậc đã xa lìa các tội lỗi, bậc Chánh đẳng Chánh giác, bậc đầy đủ minh và hạnh, bậc đã đến nơi an lạc đại Niết-bàn, bậc thông suốt cả tam giới, bậc có nhiều đức hạnh, bậc dạy dỗ những người đáng dạy dỗ, bậc thầy cả Chư Thiên và nhân loại, bậc thông thấu lý tứ diệu đế, bậc không còn luân hồi lại nữa. Vậy xin Bệ hạ đến viếng Đức Phật, khi Bệ hạ đến viếng Ngài thì thế nào cũng được thỏa mãn như ý muốn không sai”. Khi ông Jīvaka tâu xong, đức vua liền nhận lời và ra lệnh cho ông Jīvaka sửa soạn xe giá ngựa cho Ngài đi viếng Đức Phật. Khi ông Jīvaka cho sửa soạn xong năm trăm thớt voi cái và một thớt voi đực bèn vào tâu với đức vua. Ngài lên ngự trên thớt voi chúa luôn cả năm trăm cung phi mỹ nữ mỗi người cũng đều ngự một thớt voi, luôn cả các quân tùy tùng cầm đèn đuốc sáng trưng, ra khỏi đền thẳng đến vườn Xoài của ông Jīvaka.

Khi đức vua A-Xà-Thế ngự gần đến vườn Xoài thì tâm phát sanh ghê sợ, kinh hồn, rởn ốc cả mình bèn nói với ông Jīvaka rằng: “Ông Jīvaka không gạt tôi chăng? Ông không dụ tôi chăng? Ông không dẫn tôi đem cho kẻ nghịch chăng? Vì chư tăng có nhiều đến 1250 vị mà sao không nghe tiếng ho hen, ồn ào chi cả?” Ông Jīvaka bèn tâu rằng: “Tâu Đại vương, xin Đại vương đừng sợ, tôi không gạt, không dụ Đại vương đem cho kẻ nghịch đâu. Xin Đại vương cứ đi vào, đèn còn đương đốt nơi giảng đường đó”. Khi ấy đức vua A-Xà-Thế xuống voi đi chân không thẳng vào cửa giảng đường, đến nơi bèn hỏi ông Jīvaka: “Vậy chớ Đức Phật ngự nơi nào?” Ông Jīvaka trả lời rằng: “Đó, Đức Thế Tôn đang ngồi dựa vào cây cột giữa, day mặt về hướng đông đối diện với chư tăng”. Đức Vua liền đến gần nơi Phật ngự, đứng một nơi phải lẽ, khi đứng xong đức vua liếc nhìn chư Tăng đang ngồi im lìm yên tịnh hết thảy. Đức Vua thấy vậy nói rằng: “Chư Tăng đang yên tịnh như thế nào thì cầu xin cho Udaya Bhadda con tôi cũng được yên tịnh như thế ấy”.

#phatgiaonguyenthuy

#phatgiao

#TyKhuuBuuChon

#tinhtam

#theravada

Theo nguồn: https://theravada.vn/book/qua-bao-cua-sa-mon-samannaphala-sutta-ty-khuu-buu-chon/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TẠNG KINH – TIỂU BỘ – MILINDA VẤN ĐẠO – NGÀI INDACANDA DỊCH

  Vị vua ấy tên là Milinda ở kinh thành Sāgalā đã đi đến gặp Nāgasena, ví như dòng sông Gaṅgā đi đến với biển cả.  Sau khi đi đến gần vị có ...